vanban.org

Bản án 168/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 21/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

*Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

* Xử phạt: Nguyễn Thanh Q 07 (bảy) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HS-PT ngày 13/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành cho cả hai bản án là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng…"
  • Tòa quyết gì? *Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2019/HSST
Ngày: 21-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩmphán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Lưu.

Bà Nguyễn Thị Minh Huấn.

Thư ký phiên tòa: Ông Biện Anh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hải - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.

Ngày 21 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 143/2019/HSST ngày 20 tháng 9 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 192/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 234/2019/HSST-QĐ ngày 13 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh Q, Sinh năm 1994 tại B; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu phố 1, phường H, TP. P, tỉnh B; Nghề nghiệp: bán hàng qua mạng. Trình độ học vấn: 10/12. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Nguyễn C, sinh năm 1966 và bà Đinh Thị Thanh Y, sinh năm 1966 (chết); Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 13/3/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm tuyên phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 17/2018/HS-PT; bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam S.

Trong vụ án này bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 19/4/2018 bị cáo đi chấp hành bản án số 17/2018/HS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

1. Ông Vương Lê H, sinh năm 1978, trú tại: Số XX đường H, phường H, quận H 1, thành phố N (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Ông Phạm Đình Đ, sinh năm 1991, trú tại: Số XX ngách XX Nguyễn Lương B, quận Đ, thành phố N (vắng mặt).

3. Ông Phạm Ngọc A, sinh năm 1980, trú tại: Số XX ngõ T, phường K, quận Đ, thành phố N (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

4. Ông Nguyễn Anh N, sinh năm 1986, trú tại: Số XX đường V, khu phố 1, phường B, thành phố B1, tỉnh Đ (có mặt).

5. Ông Mai Lê T, sinh năm 1994, trú tại: XX đường H, phường X, quận Y, thành phố M (vắng mặt).

6. Bà Vũ Thảo N I, sinh năm 1996, trú tại: XX đường Nguyễn Vân H, khu phố 3, phường T, thành phố B1, tỉnh Đ (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Chí T1, sinh năm 1984, trú tại: số XX, đường Võ Liêm S, phường Ph, thành phố P, tỉnh B (có mặt).

2. Bà Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm 1998, trú tại: Khu phố 1, phường H, thành phố P, tỉnh B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2016 đến tháng 8/2017, thông qua việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính Nguyễn Thanh Q đã tạo lập nhiều tài khoản trên mạng xã hội Facebook rồi sử dụng các tài khoản này đăng quảng cáo bán hàng hóa là máy chơi game Sony Playstation 4 (PS4); thẻ game (tức dạng tài khoản có mệnh giá tiền mặt, dùng để nạp vào trò chơi trực tuyến); Gift Code (tức mã số thẻ quà tặng, được quy bằng tiền mặt, dùng để thanh toán mua hàng trực tuyến) theo hình thức thương mại điện tử để khách hàng liên hệ mua khi có nhu cầu. Cách thức thực hiện như sau: Để tạo sự tin tưởng của các khách hàng, Nguyễn Thanh Q dùng thủ đoạn gian dối, quảng cáo hàng hóa của mình có nguồn gốc mua với số lượng lớn từ trang thương mại trực tuyến quốc tế Amazon nên có giá thấp hơn so với giá thị trường. Theo thỏa thuận, khi khách hàng đồng ý mua hàng thì sẽ chuyển khoản tiền mua (hoặc tiền đặt cọc) vào tài khoản của Nguyễn Thanh Q trước 14 ngày và khi Nguyễn Thanh Q nhận hàng từ Amazon thì sẽ giao lại cho khách. Tuy nhiên, khi người mua tin tưởng, chuyển tiền vào tài khoản thì Nguyễn Thanh Q không giao đúng, đủ số lượng hàng hóa như đã thỏa thuận, mà sử dụng các thẻ game; Gilf Code đã sử dụng rồi (tức không còn giá trị) để giao cho khách hàng; hoặc chặn, khóa tài khoản Facebook để khách hàng không thể liên lạc với Nguyễn Thanh Q, nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền của người mua hàng đã chuyển khoản. Cụ thể các lần phạm tội như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng cuối tháng 11/2016, thông qua các quảng cáo về máy chơi game, thẻ game do Nguyễn Thanh Q đăng trên tài khoản Facebook “Sh N”, ông Vương Lê H (trú tại số Số XX đường H, phường H, quận H 1, thành phố N) dùng Facebook “H O” của mình liên hệ với Nguyễn Thanh Q để đặt mua 12 bộ máy chơi game hiệu Sony Playstation 4 (PS4). Nguyễn Thanh Q và Vương Lê H thỏa thuận về đặc điểm hàng hóa và thống nhất qua tin nhắn Messenger, Zalo và gọi điện thoại trao đổi trực tiếp qua điện thoại di động giữa các thuê bao có số: 0915.368.369 và số 0937.285.756, tổng số tiền ông Vương Lê H phải thanh toán cho 12 bộ máy PS4 là (4.900.000 đồng/bộ x 12 bộ) tương đương 59.000.000 đồng (đây không phải là số tiền chính xác mà chỉ là số tiền ông Vương Lê H và Nguyễn Thanh Q thỏa thuận để đặt cọc, giá trị thực đối với từng máy thì khi nào nhận máy ông Vương Lê H và Nguyễn Thanh Q mới thống nhất với nhau). Do trước đó Nguyễn Thanh Q đã nhiều lần bán máy chơi game và thẻ game cho ông Vương Lê H, các lần giao dịch này đều thực hiện theo đúng thỏa thuận nên ông Vương Lê H đã tin tưởng chuyển khoản trước tiền 59.000.000 đồng cho Nguyễn Thanh Q. Sau khi có máy thì Nguyễn Thanh Q sẽ giao cho ông Vương Lê H bằng dịch vụ chuyển phát nhanh.

Theo như thỏa thuận, ngày 25/11/2016 ông Vương Lê H đã sử dụng tài khoản của mình số 0021002XXXXXX mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh quận H, thành phố N chuyển 9.000.000 đồng vào tài khoản số 0621000XXXXXX của Nguyễn Thanh Q mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Bình Thuận. Tuy nhiên, do có ý định chiếm đoạt số tiền trên ngay từ đầu nên Nguyễn Thanh Q không đặt mua hàng qua trang web “Amazon” để giao cho ông Vương Lê H như đã thỏa thuận. Khoảng vài ngày sau, Nguyễn Thanh Q muốn chiếm đoạt thêm tiền của ông Vương Lê H nên tiếp tục liên lạc qua tin nhắn Messenger, Zalo và điện thoại di động mời ông Vương Lê H mua thẻ game. Do tại thời điểm này chưa đến thời hạn giao số hàng 12 máy chơi game, nên ông Vương Lê H vẫn tin tưởng và đồng ý đặt mua tiếp 05 thẻ game PS4 với giá: 980.000 đồng/thẻ x 5 thẻ = 4.900.000 đồng.

Trên cơ sở thỏa thuận mua bán này, ngày 28/11/2016 ông Vương Lê H đã chuyển tiếp số tiền 4.900.000 đồng cho Nguyễn Thanh Q (cũng sử dụng số tài khoản gửi và nhận như lần trước). Tuy nhiên, Nguyễn Thanh Q cũng không đặt mua các thẻ game từ trang web “Amazon” để bán cho ông Vương Lê H.

Trong thời gian thỏa thuận chờ giao nhận hàng hóa, Nguyễn Thanh Q tiếp tục liên lạc qua tin nhắn Messenger, Zalo và điện thoại di động yêu cầu ông Vương Lê H chuyển số tiền còn lại. Theo đó, vào các ngày 06/12/2016 và 08/12/2016 ông Vương Lê H tiếp tục dùng tài khoản của mình chuyển lần lượt 30.000.000 đồng và 20.000.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Thanh Q. Như vậy, tổng số tiền mà ông Vương Lê H đã chuyển cho Nguyễn Thanh Q để thực hiện thỏa thuận mua 12 bộ máy PS4 và 05 thẻ game PS4 là: 59.000.000.đ + 4.900.000 = 63.900.000 đồng.

Sau ngày chuyển tiền cuối cùng khoảng một tuần (tức đúng thời hạn như thỏa thuận) Nguyễn Thanh Q chỉ giao cho ông Vương Lê H 02 bộ máy chơi game PS4 trị giá 11.200.000 đồng (đây là giá trị thực khi ông Vương Lê H nhận máy). Đồng thời, vào các ngày 22 và 23/12/2016 Nguyễn Thanh Q chuyển trả lại 20.000.000 đồng vào tài khoản của ông Vương Lê H. Sau đó, Q đã khóa tài khoản Facebook “Sh N” và số điện thoại di động của mình nhằm cắt đứt mọi liên lạc với ông Vương Lê H để chiếm đoạt số tiền còn lại: (59.000.000 đồng + 4.900.000) – 31.200.000 = 32.700.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được Nguyễn Thanh Q dùng để trả nợ và tiêu xài hết.

Khi thấy Nguyễn Thanh Q không giao hàng theo thỏa thuận và do không liên lạc được với Nguyễn Thanh Q, ông Vương Lê H đã làm đơn tố cáo gửi đến Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao – Công an thành phố N để tố cáo hành vi phạm tội của Nguyễn Thanh Q, đồng thời giao nộp các tài liệu gồm:

- 02 trang tài liệu in sao kê giao dịch chuyển tiền từ tài khoản 0021002056710 của ông Vương Lê H sang tài khoản 0621080XXXXXX của Nguyễn Thanh Q;

- 02 trang tài liệu thể hiện cuộc nói chuyện mua bán giữa Vương Lê H và Nguyễn Thanh Q qua Zalo.

Về dân sự: Qúa trình điều tra và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 04/11/2019 ông Vương Lê H yêu cầu Nguyễn Thanh Q bồi thường tổng số tiền là 32.700.000 đồng. Đến nay Nguyễn Thanh Q chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

Vụ thứ hai: Sau khi khóa tài khoản Facebook để chiếm đoạt số tiền 32.700.000 đồng của anh Vương Lê H, một thời gian sau (không nhớ rõ ngày) Nguyễn Thanh Q mở lại tài khoản Facebook “Sh N” và tiếp tục đăng thông tin quảng cáo bán hàng qua mạng. Ngày 24/12/2016, qua những thông tin này, ông Phạm Đình Đ (trú tại Số XX ngách XX Nguyễn Lương B, quận Đ, thành phố N) dùng Facebook “Phạm Đình Đ” của mình liên hệ với Nguyễn Thanh Q qua tin nhắn Messenger để đặt mua 01 thẻ game PlayStation - Plus (PS – PLUS) và 02 thẻ game PlayStation - Network (PSN) với giá 50USD/thẻ. Sau khi thỏa thuận xong giá cả hàng hóa thì tổng giá trị các thẻ game quy đổi ra tiền Việt Nam là: (1.083.000 đồng/thẻ x 03 thẻ) = 3.249.000 đồng. Cùng ngày, ông Phạm Đình Đ đã sử dụng tài khoản số 0021000XXXXXX của mình mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh quận Đ, thành phố N chuyển 3.250.000 đồng vào tài khoản số 0621000XXXXXX của Nguyễn Thanh Q mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Bình Thuận. Sau đó Nguyễn Thanh Q đã chuyển 01 mã số thẻ game qua tin nhắn Messenger cho ông Phạm Đình Đ.

Ngày 27/12/2016, Nguyễn Thanh Q chuyển tiếp qua tin nhắn Messenger 02 mã thẻ game PlayStation - Network (trong đó có 01 thẻ game đã qua sử dụng) cho ông Phạm Đình Đ. Khi ông Phạm Đình Đ phát hiện trong hai thẻ game Nguyễn Thanh Q đã chuyển lần sau có 01 thẻ bị lỗi không sử dụng được thì ông Phạm Đình Đ báo lại cho Nguyễn Thanh Q, Q nói sẽ xem lại, nhưng sau đó Nguyễn Thanh Q khóa tài khoản Facebook “Sh N” nhằm cắt đứt mọi liên lạc với ông Phạm Đình Đ để chiếm đoạt số tiền là 1.083.000 đồng, tức giá trị còn lại của 01 thẻ game không sử dụng được nêu trên (3.250.000 đồng – 2.166.000 đồng= 1.083.000 đồng). Số tiền chiếm đoạt được Nguyễn Thanh Q đã dùng vào việc trả nợ và tiêu xài hết.

Khi ông Phạm Đình Đ không thấy Nguyễn Thanh Q giao hàng đúng theo thỏa thuận và do không liên lạc được với Nguyễn Thanh Q, ông Phạm Đình Đ đã làm đơn tố cáo gửi đến Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao – Công an thành phố N để tố cáo hành vi phạm tội của Nguyễn Thanh Q, đồng thời giao nộp các tài liệu gồm:

- 01 trang tài liệu chụp sao kê tài khoản Ngân hàng (thể hiện việc ông Phạm Đình Đức chuyển tiền cho Nguyễn Thanh Q);

- 05 trang tài liệu được in ra từ Facebook “Phạm Đình Đ” của ông Phạm Đình Đ (thể hiện việc trao đổi mua bán giữ ông Đ và Q).

Về dân sự: Ông Phạm Đình Đ yêu cầu Quang bồi thường số tiền còn lại là 1.083.333 đồng. Đến nay Q chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

Vụ thứ ba: Sau khi khóa tài khoản Facebook được một thời gian (không nhớ rõ ngày), Nguyễn Thanh Q tiếp tục phục hồi tài khoản “Sh N” để đăng quảng cáo bán hàng qua mạng. Khoảng tháng 12/2016, thông qua những thông tin này, ông Phạm Ngọc A (sinh ngày 20/8/1980, thường trú tại Số XX ngõ T, phường K, quận Đ, thành phố N) đã dùng Facebook “Phạm Ngọc A” của mình liên hệ với Nguyễn Thanh Q qua tin nhắn Messenger và qua Zalo để đặt mua 01 máy chơi game PS4 với giá 9.000.000 đồng. Nguyễn Thanh Q đồng ý cho ông Phạm Ngọc A chuyển khoản trước số tiền 5.000.000 đồng để đặt cọc. Trên cơ sở thỏa thuận mua bán này, ngày 26/12/2016 ông Phạm Ngọc A đã sử dụng tài khoản của mình số 0011004XXXXXX mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh quận Hoàn Kiếm, thành phố N chuyển 5.000.000 đồng cho Nguyễn Thanh Q qua tài khoản của Q số 0621000XXXXXX mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Bình Thuận. Vì tin tưởng các thông tin quảng cáo hàng hóa từ Nguyễn Thanh Q nên tối cùng ngày, ông Phạm Ngọc A tiếp tục liên lạc qua tin nhắn Messenger với Nguyễn Thanh Q để đặt mua thêm 02 thẻ game PlayStation - Plus (PSP) với giá 2.000.000 đồng, đồng thời chuyển khoản cho Nguyễn Thanh Q 2.000.000 đồng (cũng sử dụng số tài khoản gửi và nhận như lần trước).

Do có ý định chiếm đoạt tiền từ trước nên sau khi nhận được tiền chuyển khoản, Nguyễn Thanh Q nhắn tin qua tin nhắn Messenger cho ông Phạm Ngọc A 02 mã số thẻ game PlayStation - Plus đã qua sử dụng (không còn giá trị). Sau khi nạp các mã số do Nguyễn Thanh Q cung cấp, ông Phạm Ngọc A phát hiện các mã số đều bị lỗi không sử dụng được nên báo lại cho Nguyễn Thanh Q biết thì Q giả vờ nói sẽ xem lại rồi sau đó khóa tài khoản Facebook “Sh N” và điện thoại di động nhằm cắt đứt mọi liên lạc với ông Phạm Ngọc A để chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng ông Phạm Ngọc A đặt mua 01 máy chơi game PS4 và 02 thẻ game PlayStation – Plus nêu trên. Số tiền chiếm đoạt được Nguyễn Thanh Q đã dùng vào việc trả nợ và tiêu xài hết.

Khi không thấy Nguyễn Thanh Q giao hàng theo thỏa thuận và do không liên lạc được với Nguyễn Thanh Q, ông Phạm Ngọc A đã làm đơn tố cáo gửi đến Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao – Công an thành phố N tố cáo hành vi phạm tội của Nguyễn Thanh Q, đồng thời giao nộp các tài liệu gồm:

- 02 trang tài liệu in sao kê giao dịch chuyển tiền từ ông Phạm Ngọc A cho Nguyễn Thanh Q;

- 03 trang tài liệu thể hiện nội dung trao đổi mua hàng giữa ông Phạm Ngọc A và Nguyễn Thanh Q qua tài khoản Zalo.

Về dân sự: Qúa trình điều tra và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 03/11/2019 ông Phạm Ngọc A yêu cầu Nguyễn Thanh Q bồi thường tổng số tiền là 7.000.000 đồng. Đến nay Nguyễn Thanh Q chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

Vụ thứ tư: Vào khoảng đầu tháng 3/2017, Nguyễn Thanh Q mượn tài khoản Facebook có tên “Nguyen T” của bạn là ông Nguyễn Chí T1 (trú tại số XX, đường Võ Liêm S, phường Ph, thành phố P, tỉnh B) để đăng những hình ảnh và thông tin quảng cáo bán máy chơi game, thẻ game và Gift Card. Ông Nguyễn Chí T1 hỏi Nguyễn Thanh Q lý do không sử dụng tài khoản của mình thì Q trả lời: “Do trước đây Q đã sử dụng tài khoản của mình để lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng nên Q không thể sử dụng tài khoản của mình được”, Nguyễn Thanh Q hứa với ông Nguyễn Chí T1 sẽ không lừa đảo mọi người nữa nên ông T1 đồng ý cho Q mượn tài khoản “Nguyen T” của mình (vì tài khoản này ông T1 cũng không còn sử dụng nên ông T1 cho Q toàn quyền sử dụng).

Qua tìm hiểu, ngày 06/3/2017 ông Nguyễn Anh N (trú tại Số XX đường V, khu phố 1, phường B, thành phố B1, tỉnh Đ) đã sử dụng Facebook “N Ng A” liên hệ với Q qua tin nhắn Messenger và điện thoại di động để đặt mua máy chơi game PS4, PS3, các linh kiện điện tử, đĩa trò chơi và Gift Code. Trong khoảng thời gian từ ngày 17/5/2017 đến ngày 17/7/2017, do thiếu nợ tiền thua cá cược bóng đá qua mạng và không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Thanh Q đã có ý thức từ trước về việc chiếm đoạt tiền mà ông Nguyễn Anh N sẽ thanh toán khi đặt mua máy chơi game. Vì vậy, Nguyễn Thanh Q thường xuyên liên lạc với ông Nguyễn Anh N để đưa ra thông tin quảng cáo, thỏa thuận về đặc điểm, số lượng, giá cả hàng hóa. Nhiều lần, ông Nguyễn Anh N đã chuyển tiền trước cho Nguyễn Thanh Q để đặt cọc, cụ thể như sau:

1. Ông Nguyễn Anh N đã sử dụng tài khoản của mình số 0481000XXXXXX mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh phường Tân Mai, thành phố B1, tỉnh Đ chuyển vào tài khoản số 0621000XXXXXX mang tên Nguyễn Thị Thanh V (sinh năm 1998, trú tại Khu phố 1, phường H, thành phố P, tỉnh B, là em ruột của Nguyễn Thanh Q), mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Bình Thuận, tổng cộng 14 lần cụ thể:

+ Lần thứ 01: chuyển ngày 17/5/2017 với số tiền 5.000.000 đồng;

+ Lần thứ 02: chuyển ngày 19/5/2017 với số tiền 30.000.000 đồng;

+ Lần thứ 03: chuyển ngày 24/5/2017 với số tiền 20.000.000 đồng;

+ Lần thứ 04: chuyển ngày 24/5/2017 với số tiền 2.300.000 đồng;

+ Lần thứ 05: chuyển ngày 25/5/2017 với số tiền 2.000.000 đồng;

+ Lần thứ 06: chuyển ngày 12/6/2017 với số tiền 9.000.000 đồng;

+ Lần thứ 07: chuyển ngày 13/6/2017 với số tiền 9.300.000 đồng;

+ Lần thứ 08: chuyển ngày 13/6/2017 với số tiền 7.000.000 đồng;

+ Lần thứ 09: chuyển ngày 14/6/2017 với số tiền 7.400.000 đồng;

+ Lần thứ 10: chuyển ngày 15/6/2017 với số tiền 11.600.000 đồng;

+ Lần thứ 11: chuyển ngày 15/6/2017 với số tiền 6.000.000 đồng;

+ Lần thứ 12: chuyển ngày 15/6/2017 với số tiền 12.160.000 đồng;

+ Lần thứ 13: chuyển ngày 02/7/2017 với số tiền 2.000.000 đồng;

+ Lần thứ 14: chuyển ngày 10/7/2017 với số tiền 4.500.000 đồng.

Tổng cộng: 128.260.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Do tài khoản Ngân hàng trước đây của Nguyễn Thanh Q đã bị cơ quan điều tra thu giữ. Nên Nguyễn Thanh Q đã mượn tài khoản Ngân hàng của em gái mình là Nguyễn Thị Thanh V để sử dụng. Nguyễn Thị Thanh V là người mở tài khoản Ngân hàng và do chưa có nhu cầu sử dụng nên đã đồng ý cho Nguyễn Thanh Q mượn. Nguyễn Thị Thanh V không biết về các giao dịch giữa Nguyễn Thanh Q với khách hàng vì Nguyễn Thanh Q là người trực tiếp sử dụng tài khoản Ngân hàng này.

2. Ông Nguyễn Anh N đã sử dụng tài khoản của mình số 0481000XXXXXX mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh phường Tân Mai, thành phố B1, tỉnh Đ chuyển tiền vào tài khoản số 0541000XXXXXX mang tên Đỗ Viết H mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh huyện ĐA, Thành phố N (đây là thẻ Ngân hàng do Nguyễn Thanh Q lấy từ trang web Vnexmoney, là tài khoản trung gian để cung cấp cho khách hàng) tổng cộng 02 lần:

+ Lần thứ nhất: chuyển ngày 17/7/2017 với số tiền 2.419.000 đồng;

+ Lần thứ hai: chuyển ngày 17/7/2017 với số tiền 2.655.400 đồng.

Sau khi nhận được tổng số tiền trên, Nguyễn Thanh Q đã không đặt mua hàng qua trang web “Amazon” để giao hàng cho ông Nguyễn Anh N như đã thỏa thuận mà khóa tài khoản Facebook “Nguyen T” và số điện thoại di động nhằm cắt đứt mọi liên lạc với ông Nguyễn Anh N để chiếm đoạt tổng số tiền là 133.334.400 đồng. Số tiền chiếm đoạt được Nguyễn Thanh Q đã dùng vào việc trả nợ và tiêu xài hết.

Khi đến thời hạn nhưng không thấy Nguyễn Thanh Q giao hàng theo thỏa thuận và do không liên lạc được với Nguyễn Thanh Q, qua tìm hiểu thì ông Nguyễn Anh N biết người sử dụng tài khoản Facebook “Nguyen T” là Nguyễn Thanh Q nên ông Nguyễn Anh N đã làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P tố cáo hành vi phạm tội của Nguyễn Thanh Q, đồng thời giao nộp các tài liệu gồm:

- 10 trang tài liệu in sao kê tài khoản Ngân hàng (thể hiện việc ông Nguyễn Anh N chuyển tiền cho Nguyễn Thanh Q);

- 01 giấy xác nhận số thẻ của tài khoản tiền gửi thanh toán do Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Biên Hòa xác nhận.

Về dân sự: Qúa trình điều tra, ông Nguyễn Anh N yêu cầu Q bồi thường tổng số tiền là 133.334.400 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh Q trình bày trong số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của ông N nêu trên bị cáo đã khắc phục một phần, cụ thể bị cáo bồi thường cho ông N tổng cộng 04 lần với số tiền 32.500.000đồng: lần 1 số tiền 5.000.000đ, lần 2 bị cáo bán máy móc của cá nhân trả cho ông N số tiền 9.500.000đ, lần 3 bị cáo bán xe mô tô của mình trả cho ông N 13.000.000đ, lần 4 bị cáo trả cho ông N 5.000.000đ, bị cáo không có chứng cứ về việc trả tiền cho ông N, nên không có chứng cứ xác định thời gian bồi thường cho ông N. Tại phiên tòa ông Nguyễn Anh N thừa nhận bị cáo Nguyễn Thanh Q có bồi thường cho ông 04 lần với tổng số tiền 32.500.000đ như bị cáo đã trình bày nhưng ông N cũng không nhớ chính xác bị cáo đã bồi thường vào thời gian nào, nay ông N không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh Q bồi thường cho ông số tiền còn lại, ông Nguyễn Anh N không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.

Vụ thứ năm: Cũng vào khoảng đầu tháng 5/2017, qua những thông tin quảng cáo bán sản phẩm máy chơi game PS3, PS4, đĩa game và Gift Card trên Facebook “Nguyen T” (do Nguyễn Thanh Q là người trực tiếp đăng tin, điều hành trang), ông Mai Lê T (trú tại XX đường H, phường X, quận Y, thành phố M) đã liên hệ qua tin nhắn Messenger với Nguyễn Thanh Q để đặt mua 46 Gift Code với tổng số tiền là (1.000.000 đồng/Gift Code x 46 Gift Code) = 46.000.000 đồng. Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Thanh Q đã có ý định chiếm đoạt số tiền giao dịch mua bán Gift Code. Do đó, theo yêu cầu của Nguyễn Thanh Q, Mai Lê T đã chuyển số tiền trên vào tài khoản số 0621000XXXXXX mang tên Nguyễn Thị Thanh V mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Bình Thuận. Cụ thể:

- Lần thứ nhất: vào ngày 22/5/2017, ông Mai Lê T chuyển số tiền 35.000.000 đồng;

- Lần thứ hai: vào ngày 23/5/2017, ông Mai Lê T nhờ anh của mình là Hoàng Tử P chuyển tiếp số tiền 11.000.000 đồng.

Sau khi Nguyễn Thanh Q nhận được tổng số tiền 46.000.000 đồng của anh T, Nguyễn Thanh Q đã không đặt mua các Gift Code để giao cho ông Mai Lê T như đã thỏa thuận mà lấy 20 mã số Gift Code đã qua sử dụng để gửi cho ông Mai Lê T. Sau khi nạp các mã số này, ông T phát hiện đều bị lỗi không sử dụng được nên có báo lại cho Nguyễn Thanh Q biết. Lúc này, Q nói sẽ xem lại, sau đó khóa tài khoản Facebook và điện thoại di động cá nhân nhằm cắt đứt mọi liên lạc với ông T để chiếm đoạt số tiền 46.000.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được Q đã dùng vào việc trả nợ và tiêu xài hết.

Đến khoảng đầu tháng 6/2017, qua tìm kiếm thông tin, ông Mai Lê T đến nhà Nguyễn Thanh Q tìm Q để làm rõ việc bị Nguyễn Thanh Q chiếm đoạt tài sản thì ông T gặp anh trai của Q tên Nguyễn Văn D (sinh năm 1986, trú tại khu phố 1, phường H, thành phố P). Ông Nguyễn Văn D đã liên lạc với Nguyễn Thanh Q hỏi rõ sự việc. Sau đó, có sự tác động của Nguyễn Thanh Q, ông D đã trả lại cho ông Mai Lê T số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả do Q gây ra, số tiền còn lại 26.000.000 đồng, Nguyễn Thanh Q và ông D hứa sẽ trả dần từng tháng, mỗi tháng trả 5.000.000 đồng thì ông T đồng ý. Nhưng sau đó ông T vẫn không nhận được số tiền 26.000.000 đồng còn lại như lời hứa của Nguyễn Thanh Q và anh D.

Thấy Nguyễn Thanh Q không thực hiện nghĩa vụ bồi thường số tiền còn lại như hai bên đã thỏa thuận, ông Mai Lê T đã làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P để tố cáo hành vi phạm tội của Nguyễn Thanh Q, đồng thời giao nộp các tài liệu gồm: 03 trang tài liệu thể hiện chứng từ giao dịch của Ngân hàng (thể hiện việc anh Thuấn chuyển tiền cho Q).

Về dân sự: Ông Mai Lê T yêu cầu Nguyễn Thanh Q bồi thường tổng số tiền còn lại là 26.000.000 đồng. Đến nay Nguyễn Thanh Q chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

Vụ thứ sáu: Do tin tưởng các thông tin quảng cáo bán hàng như trên nên ngày 06/8/2017, nên bà Vũ Thảo N I (trú tại XX đường Nguyễn Vân H, khu phố 3, phường T, thành phố B1, tỉnh Đ) dùng Facebook “Nguyên V” của mình liên lạc qua tin nhắn Messenger có tên Facebook là “Thái T” (đây là Facebook do Nguyễn Thanh Q tạo lập và một mình trực tiếp sử dụng) để đặt mua Gift Card (mệnh giá 1.000USD) với giá 16.000.000 đồng. Trong quá trình thỏa thuận giao dịch, Q tự nhận mình tên là Đỗ Viết H, chủ tài khoản “Thái T” chuyên bán hàng trực tuyến với mặt hàng Gift Card (loại dùng mua sản phẩm đồ thể thao hiệu Adidas, Nick trên trang trực tuyến Amazon).

Cũng giống như thủ đoạn trong các lần phạm tội trên, Nguyễn Thanh Q đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền mà bà Vũ Thảo N I sẽ thanh toán nên sau khi thỏa thuận về giá cả, loại hàng hóa thì Nguyễn Thanh Q tiếp tục chào mời bà Vũ Thảo N I mua thêm 20.000USD Gift Card nhưng chỉ cần thanh toán trước cho Nguyễn Thanh Q 25.000.000 đồng để đặt cọc và được chị Vũ Thảo N I đồng ý. Theo như thỏa thuận, bà Vũ Thảo N I đã sử dụng tài khoản của mình, số 0371000XXXXXX mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Tân Định, thành phố M chuyển 02 lần vào tài khoản số 0541000XXXXXX mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh huyện ĐA, Thành phố N (đây là thẻ Ngân hàng do Nguyễn Thanh Q lấy từ trang web Vnexmoney, là tài khoản trung gian để cung cấp cho khách hàng) lần lượt như sau:

Lần thứ nhất: ngày 09/8/2017, chuyển 1.783.473 đồng;

Lần thứ hai: ngày 14/8/2017, chuyển 25.062.657 đồng.

Sau khi Nguyễn Thanh Q nhận tổng số tiền là: 26.846.130 đồng từ bà Vũ Thảo N I thì Nguyễn Thanh Q đã không giao các Gilf Card cho bà Vũ Thảo N I như đã thỏa thuận ban đầu mà yêu cầu bà N I chuyển thêm 120.000.000 đồng cho Q thì Q mới hướng dẫn bà N I cách sử dụng Gift Card và mua hàng trên web Adidas.com (thực chất, đây là lý do mà Q đưa ra để không thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bà N I như đã thỏa thuận, chứ thực tế Q không có và không đặt mua bất kỳ thẻ Gilf Card nào). Khi bà Ng không đồng ý, thì Q liền khóa tài khoản Facebook “Thái T” nhằm cắt đứt mọi liên lạc với bà N I và chiếm đoạt số tiền 26.846.130 đồng nói trên. Số tiền này Q đã tiêu xài hết 11.846.130 đồng còn lại 15.000.000 đồng thì sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, Q đã giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để khắc phục hậu quả cho bà N I.

Khi thấy Q không giao hàng theo thỏa thuận và không liên lạc được với Nguyễn Thanh Q. Bà Vũ Thảo N I đã tìm hiểu thì và biết đối tượng không phải là Đỗ Viết H mà có tên là Nguyễn Thanh Q nên bà Vũ Thảo N I đã gửi đơn tố cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an TP.P yêu cầu xử lý hành vi phạm tội của Q, đồng thời giao nộp các tài liệu gồm: 02 trang tài liệu in sao kê tài khoản Ngân hàng (thể hiện việc bà N I chuyển tiền cho Q).

Về dân sự: Qúa trình điều tra bà Vũ Thảo N I yêu cầu Nguyễn Thanh Q bồi thường tổng số tiền 26.846.103 đồng và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 14/11/2019 bà Vũ Thảo N I vẫn giữ nguyên yêu cầu này. Nguyễn Thanh Q đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P 15.000.000 đồng (là tiền Q chiếm đoạt của bà N I còn lại) để khắc phục hậu quả (hiện số tiền trên đã chuyển đến tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P để xử lý theo quy định).

Qúa trình làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P Nguyễn Thanh Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, đồng thời giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P các tang vật gồm:

- 27.000.0000 đồng (đây là số tiền Q chiếm đoạt của khách hàng, trong đó có 15.000.000 đồng Q chiếm đoạt của bà N I);

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei: 352457051XXXXXX (Q dùng để liên lạc trao đổi với khách hàng);

- 01 ổ cứng máy tính Sata Seagate thông số: S/N: 9RW5KSDD; ST380815AS; P/N: 9CY131 – 313;

- Các tài liệu kiểm tra tài khoản Facebook bằng hộp thư điện tử và kiểm tra phần mềm Zalo của Q.

Qúa trình điều tra Nguyễn Thanh Q khai nhận: trong khoảng thời gian từ ngày 20/3/2017 đến ngày 26/3/2017, Q có làm ăn chung với ông Nguyễn Chí T1, ông T1 nhờ Q chỉ cách kinh doanh buôn bán qua mạng xã hội để kiếm thêm thu nhập thì được Q đồng ý và hướng dẫn ông T1 đăng nhập các thông tin về sản phẩm thẻ game trên Facebook “Tam N” của ông T1 và cùng ông T1 buôn bán kinh doanh qua mạng. Làm cùng nhau được một tuần thì ông Tâm nghỉ. Trong khoảng thời gian làm chung với ông T1 thì Q và ông T1 đều giao hàng đầy đủ cho khách, không có trường hợp nào nhận tiền của khách hàng mà không giao hàng.

Qúa trình làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P, Nguyễn Chí T1 khai nhận: Do có quen biết với nhau nên Nguyễn Thanh Q đã mượn tên Facebook, số tài khoản Ngân hàng và số điện thoại của ông T1 để bán hàng trực tuyến thông qua ứng dụng mạng xã hội là Facebook. Đến ngày 20/3/2017, ông T1 góp vốn 9.000.000 đồng để làm ăn chung với Nguyễn Thanh Q (lợi nhuận sẽ chia đều 50%). Qúa trình buôn bán trước đây, ông Nguyễn Chí T1 giao hàng và thu tiền về đúng theo như đã thỏa thuận với khách hàng. Do có mối liên hệ làm ăn chung với Nguyễn Thanh Q nên sau khi nhận đơn tố cáo từ những người bị hại trong các lần phạm tội của Q thì Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Công an thành phố N đã mời ông Nguyễn Chí T1 đến trụ sở Công an phường H để làm việc và thu giữ các tang vật gồm:

- 01 chứng minh nhân dân số 261380XXX do Công an tỉnh Bình Thuận cấp ngày 15/7/2016 mang tên Nguyễn Chí T1;

- 01 thẻ ATM Connect Vietcombank số 9704366821159XXXXXX mang tên Nguyễn Chí T1;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung S4 màu đen số Imei: 356420058694860, có sim số: 0963466XXX;

- 09 trang tài liệu được in ra sau khi kiểm tra điện thoại Samsung S4 của Nguyễn Chí T1 (quá trình kiểm tra điện thoại xác định: không có thông tin gì liên quan đến các vụ phạm tội của Nguyễn Thanh Q);

- 12 trang tài liệu được in ra sau khi kiểm tra tài khoản facebook “Tam N” của Nguyễn Chí T1 (đây là Facebook do anh T1 sử dụng và có rao bán các mặt hàng tuy nhiên khi kiểm tra không phát hiện các thông tin của những vụ mà Nguyễn Thanh Q phạm tội).

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei: 352457051427074; 01 ổ cứng máy tính Sata Seagate thông số: S/N:9RW5KSDD; ST380815AS; P/N:9CY131 – 313 thu giữ từ Nguyễn Thanh Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TP.Pt đã chuyển đến kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P chờ xử lý; Đối với số tiền 27.000.000 đồng cơ quan điều tra Công an thành phố P đã chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P chờ xử lý;

Đối với 01 chứng minh nhân dân; 01 thẻ ATM; 01 chiếc điện thoại di động Samsung S4, số Imei: 356420058694XXX, chứa sim số: 0963.466.XXX thu giữ từ ông Nguyễn Chí T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã xử lý vật chứng trả lại cho ông T1 do không liên quan đến vụ án. Ông T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.

Đối với những tài liệu khác: những trang tài liệu in sao kê tài khoản Ngân hàng, các trang tài liệu được in ra từ facebook, zalo hiện được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án để phục vụ cho quá trình xét xử vụ án.

Tại bản cáo trạng số 141/CT - VKS ngày 17 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh B đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng quy định điểm a khoản 3 Điều 290; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q từ 07 năm đến 08 năm tù và áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt bản án số 17/2018/HSPT ngày 13/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho hai bản án.

Biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: đề nghị tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu samsung màu đen Imei: 352457051427074; 01 ổ cứng máy tính Sata Seagate thông số S/N:9RW5KSDD; ST380815AS; P/N:9CY131 – 313 (thu giữ của Q).

Đối với số tiền 27.000.000 đồng: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bà Vũ Thảo N I 15.000.000 đồng (đây là số tiền Q chiếm đoạt của bà N I). Số tiền 12.000.000 đồng còn lại tiếp tạm tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Dân sự: Tại phiên tòa ông Nguyễn Anh N không yêu cầu Q bồi thường số tiền 133.334.400 đồng nên Viện kiểm sát không xem xét.

Căn cứ Điều 48 BLHS 2015, Điều 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Yêu cầu Nguyễn Thanh Q bồi thường số tiền còn lại cho các bị hại gồm: Bị hại Vương Lê H: 32.700.000 đồng; bị hại Phạm Đình Đ: 1.083.000 đồng; bị hại Phạm Ngọc A: 7.000.0000 đồng; bị hại Mai Lê T: 46.000.000 đồng; bị hại Vũ Thảo N I: 11.846.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo xác định cáo trạng truy tố không oan sai và đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội, xin lỗi các bị hại, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện tương đối đầy đủ và đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Bình Thuận có vi phạm sau: trong hồ sơ vụ án không thể hiện việc bị hại được thông báo kết quả điều tra theo điểm đ khoản 2 Điều 62, khoản 4 Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về đánh giá chứng cứ điều tra, truy tố hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2016 đến tháng 8/2017, tại thành phố P, tỉnh B, bị cáo Nguyễn Thanh Q đã 06 lần có hành vi sử dụng mạng internet, mạng máy tính tạo ra nhiều tài khoản Facebook khác nhau để đăng thông tin rao bán máy chơi game Sony Splaystation; thẻ game và và thẻ Gilf card với giá rẻ hơn giá thị trường. Khi được khách hàng tin tưởng và thỏa thuận xong số lượng, giá cả hàng hóa thì bị cáo Nguyễn Thnh Q yêu cầu khách chuyển khoản tiền mua hàng, hoặc tiền đặt cọc vào tài khoản ngân hàng của mình và hứa sẽ giao đầy đủ số lượng, chủng loại hàng hóa cho khách hàng qua hình thức chuyển phát nhanh sau khi đã nhận được tiền. Tuy nhiên khi được khách hàng chuyển tiền vào tài khoản thì bị cáo Nguyễn Thanh Q không thực hiện nghĩa vụ giao hàng, thực hiện không đúng và đủ hàng hóa như đã thỏa thuận mà chỉ giao một phần hàng hóa; hoặc giao thẻ game không còn giá trị sử dụng; hoặc khóa facebook nhằm cắt đứt mọi liên lạc của khách hàng với mục đích chiếm đoạt số tiền đã được chuyển vào tài khoản. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 11/2016, bị cáo Nguyễn Thanh Q sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi lừa đảo trong thương mại điện tử chiếm đoạt số tiền 32.700.000 đồng của ông Vương Lê H.

Lần thứ hai: Vào tháng 12/2016, bị cáo Nguyễn Thanh Q sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi lừa đảo trong thương mại điện tử chiếm đoạt số tiền 1.083.000 của ông Phạm Đình Đ.

Lần thứ ba: Vào tháng 12/2016, bị cáo Nguyễn Thanh Q sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi lừa đảo trong thương mại điện tử chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng của ông Phạm Ngọc A.

Lần thứ tư: Từ tháng 5/2017 đến tháng 7/2017 bị cáo Nguyễn Thanh Q sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi lừa đảo trong thương mại điện tử chiếm đoạt của ông Phạm Ngọc A tổng số tiền là 133.334.400 đồng.

Lần thứ năm: Vào tháng 5/2017, bị cáo Nguyễn Thanh Q sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi lừa đảo trong thương mại điện tử chiếm đoạt của ông Mai Lê T số tiền 26.000.000 đồng.

Lần thứ sáu: Vào tháng 8/2017, bị cáo Nguyễn Thanh Q sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi lừa đảo trong thương mại điện tử chiếm đoạt của bà Vũ Thảo N I số tiền 26.846.130 đồng.

Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Thanh Q đã chiếm đoạt của ông Vương Lê H, ông Phạm Đình Đ, ông Phạm Ngọc A, ông Nguyễn Anh N, ông Mai Lê T và bà Vũ Thảo N I là 226.963.863 đồng nên thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng, là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 226b của BLHS năm 1999. Tuy nhiên Điều 290 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định Tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” có hình phạt nhẹ hơn Điều 226b của BLHS năm 1999 (Điều 226b của BLHS năm 1999 có mức hình phạt tù thấp nhất là 01 năm, cao nhất là tù chung thân, Điều 290 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) có mức hình phạt thấp nhất là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, mức hình phạt tù thấp nhất là 06 năm, mức hình phạt tù cao nhất là 20 năm) nên áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 và điểm a khoản 3 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015 để truy tố, xét xử đối với bị cáo là phù hợp.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt từ 07 năm tù đến 15 năm tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi của mình đối với xã hội, ý thức được quyền sở hữu tài sản luôn được pháp luật bảo vệ, song vì để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đã 06 lần sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi lừa đảo trong thương mại điện tử chiếm đoạt tài sản mà mỗi lần đều cấu thành tội phạm, cụ thể: chiếm đoạt của Vương Lê H số tiền 32.700.000 đồng; Phạm Đình Đ số tiền 1.083.000 đồng; Phạm Ngọc A số tiền 7.000.000 đồng; Nguyễn Anh N số tiền là 133.334.400 đồng; Mai Lê T số tiền 26.000.000 đồng; Vũ Thảo N I số tiền 26.846.130 đồng. Vì vậy ngoài tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 290 của Bộ luật hình sự, bị cáo còn phải bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự an toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Trong quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố, tại phiên tòa bị cáo trình bày bị cáo có khắc phục một phần hậu quả cho bị hại Nguyễn Anh N số tiền 32.500.000đồng được ông Nguyễn Anh N thừa nhận, quá trình tố tụng bị cáo cũng nộp tại cơ quan điều tra 27.000.000đ để khắc phục hậu quả. Tại phiên tòa bị hại Nguyễn Anh N có ý kiến xin rút đơn tố cáo của mình đối với bị cáo Nguyễn Thanh Q để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thanh Q, tuy nhiên đây không phải là trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại nên yêu cầu này của ông Nguyễn Anh N không được chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị của Viện kiểm sát, xét thấy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để học tập, cải tạo thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật, đồng thời để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét bị cáo đang chấp hành án hình phạt 24 tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”; theo Bản án số 17/2018/HSPT ngày 13/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành cả hai bản án.

Đối với Nguyễn Chí T1 có hành vi cho bị cáo Nguyễn Thanh Q mượn tên Facebook, số tài khoản Ngân hàng và số điện thoại của Nguyễn Chí T1 để bán hàng trực tuyến thông qua ứng dụng mạng xã hội là Facebook nhưng Nguyễn Chí T1 lại không biết mục đích phạm tội của bị cáo. Trong khoảng thời gian Nguyễn Chí T1 làm ăn chung cùng với bị cáo bằng hình thức bán hàng qua mạng thì Nguyễn Chí T1 đã thực hiện đúng như các bên đã thỏa thuận, không lừa đảo khách hàng để chiếm đoạt tài sản. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P không xử lý đối với Nguyễn Chí T1 là có cơ sở.

Đối với Nguyễn Thị Thanh V khi cho bị cáo Nguyễn Thanh Q mượn thẻ Ngân hàng Vietcombank để sử dụng thì V không biết mục đích phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P không xem xét xử lý đối với Nguyễn Thị Thanh V là có cơ sở.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS 2015, Điều 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q phải bồi thường cho những người bị hại: ông Vương Lê H số tiền 32.700.000 đồng; ông Phạm Đình Đ số tiền 1.083.333 đồng; ông Phạm Ngọc A số tiền 7.000.000 đồng; ông Mai Lê T số tiền 26.000.000 đồng; bà Vũ Thảo N I số tiền 11.846.130 đồng.

Tổng cộng số tiền bị cáo phải bồi thường là 78.629.463 (bảy mươi tám triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn bốn trăm sáu mươi ba) đồng.

Đối với ông Nguyễn Anh N đã bị bị cáo chiếm đoạt tổng số tiền là 133.334.400 đồng nhưng tại phiên tòa ông Nguyễn Anh N thừa nhận bị cáo đã bồi thường cho ông số tiền 32.500.000đ và ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại. Xét việc ông Nguyễn Anh N không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh Q bồi thường là tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét nữa.

Về biện pháp tư pháp:

Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố P đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 931 ngày 29/3/2018 trả lại tài sản của ông Nguyễn Chí T1 là 01 chứng minh nhân dân; 01 thẻ ATM; 01 chiếc điện thoại di động Samsung S4, số Imei: 356420058XXXXXX, chứa sim số: 0963.466.XXX thu giữ từ ông Nguyễn Chí T1 do không liên quan đến vụ án là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei: 352457051XXXXXX; 01 ổ cứng máy tính Sata Seagate thông số S/N: 9RW5KSDD; ST380815AS; P/N:9CY131 – 313 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh Q do đây là tang vật, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 05 ngày 08/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố P.)

Đối với số tiền 27.000.000đ bị cáo nộp khắc phục hậu quả, trong đó có 15.000.000đ là tiền bị cáo chiếm đoạt của bà Vũ Thảo N I và đã nộp cho cơ quan điều tra Công an thành phố P để khắc phục hậu quả cho bà N I nên cần trả lại cho bà Vũ Thảo N I 15.000.000đ theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 12.000.000 đồng còn lại để đảm bảo thi hành án;

(Theo giấy nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P ngày 24/4/2018).

Về án phí: bị cáo Nguyễn Thanh Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 290; điểm g khoản 2 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự;

*Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

* Xử phạt: Nguyễn Thanh Q 07 (bảy) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HS-PT ngày 13/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành cho cả hai bản án là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2018.

*Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Căn cứ Điều 48 BLHS 2015, Điều 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q phải bồi thường cho những người bị hại: ông Vương Lê H số tiền 32.700.000 đồng; Phạm Đình Đ số tiền 1.083.333 đồng; Phạm Ngọc A số tiền 7.000.000 đồng; Mai Lê T số tiền 26.000.000 đồng; Vũ Thảo N I số tiền 11.846.130 đồng. Tổng cộng số tiền bị cáo phải bồi thường là 78.629.463 (bảy mươi tám triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn bốn trăm sáu mươi ba) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về biện pháp tư pháp:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei: 352457051XXXXXX; 01 ổ cứng máy tính Sata Seagate thông số: S/N: 9RW5KSDD; ST380815AS; P/N:9CY131 – 313 thu giữ từ Nguyễn Thanh Q do đây là tang vật, phương tiện phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 05 ngày 08/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố P.)

Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên trả lại cho bà Vũ Thảo N I 15.000.000đ là tiền bị cáo Nguyễn Thanh Q chiếm đoạt của bà Vũ Thảo N I bị cáo đã giao nộp để khắc phục hậu quả cho bà Vũ Thảo N I. Tiếp tục tạm giữ số tiền 12.000.000 đồng còn lại để đảm bảo thi hành án;

(Theo giấy nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P ngày 24/4/2018).

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.331.473(ba triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm bảy mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại Nguyễn Anh N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Chí T1, Nguyễn Thị Thanh V, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/11/2019); người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ