- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt; Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 168/2017/HSST Ngày: 17-8-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng;
2. Bà Nguyễn Ngọc Hồng.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang - Cán bộ Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Văn phòng khu phố Bình Hòa, phƣờng Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 164/2017/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 tại Đồng Tháp; nơi ĐKNKTT: Ấp B, xã T, huyện N, tỉnh T; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 06/12; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; vợ: Thạch Thị L, sinh năm 1994; có 01 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2017 cho đến nay, có mặt.
Ngƣời bị hại: Bà Ngô Thị Cẩm N, sinh năm 1982; địa chỉ thƣờng trú: Ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang; địa chỉ tạm trú: Khu phố L, phƣờng G, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Thạch Thị L, sinh năm 1994; địa chỉ thƣờng trú: Ấp C, xã C, huyện H, tỉnh Trà Vinh; địa chỉ tạm trú: Khu phố B, phƣờng P, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Khoảng 20 giờ 25 phút ngày 25/5/2017 Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô Dream Biển số 84G1-243.36 trên đƣờng 22/12 hƣớng từ vòng xoay An Phú về ngã tƣ Đất Thánh nhằm mục đích tìm ngƣời có tài sản sơ hở để cƣớp giật, bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi trên đƣờng, T phát hiện bà Ngô Thị Cẩm N đang điều khiển xe đạp chạy theo hƣớng ngƣợc lại, trên cổ bà N có đeo 01 sợi dây chuyền vàng. Lúc này, T liền điều khiển xe vòng ngƣợc trở lại, chạy vƣợt qua bà N rồi dừng xe lại đợi. Khi bà N điều khiển xe đi qua thì T điều khiển xe bám theo phía sau hƣớng đi vòng xoay An Phú, đƣợc khoảng 70m đến đoạn đƣờng thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thấy bà N chuẩn bị qua đƣờng, T liền điều khiển xe áp sát từ phía sau lên phía bên phải bà N rồi dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ bà N. Lúc này, bà N liền nắm tay T lại làm 02 xe va vào nhau, ngã xuống đƣờng. Bà N ôm giữ bánh xe trƣớc của T và truy hô thì đƣợc ngƣời dân hỗ trợ bắt giữ T cùng tang vật.
Theo Biên bản định giá ngày 30/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thị xã Thuận An xác định 01 sợi dây chuyền vàng kiểu ống dũa xen chữ cong bọng, nặng 01 chỉ 45 phân vàng 18K có giá là 2.175.000 đồng; 01 mặt dây chuyền hột đá màu xanh, viền lá hột trắng nặng 05 phân 03 li vàng có giá là 742.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 2.917.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 187/QĐ/KSĐT ngày 26/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cƣớp giật tài sản” theo Điểm d Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên, không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 136; Điểm g, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ sau: Vào khoảng 20 giờ 25 phút ngày 25/5/2017, T điều khiển xe mô tô Biển số 84G1-243.36 trên đƣờng thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện bà Ngô Thị Cẩm N đang điều khiển xe đạp trên đƣờng, trên cổ bà N có đeo 01 sợi dây chuyền, T điều khiền xe ép sát rồi dùng tay giật sợi dây chuyền của bà N thì bị bà N nắm tay T làm cho 02 xe va vào nhau, ngã xuống đƣờng. Sau đó, bà N truy hô thì đƣợc ngƣời dân hỗ trợ bắt giữ T cùng tang vật.
Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhƣ biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, biên bản xác định hiện trƣờng, lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời làm chứng có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo sử dụng xe mô tô rồi giật tài sản của ngƣời khác đã phạm tội “Cƣớp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có năng lực hành vi, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhƣng vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo sử dụng xe mô tô để làm phƣơng tiện chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác, khi phát hiện có ngƣời bị hại, bị cáo nhanh chóng tiếp cận, công khai ngay tức khắc chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức ngang nhiên, xem thƣờng pháp luật, xem thƣờng quyền sở hữu về tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại, tài sản chiếm đoạt đã trả cho ngƣời bị hại; ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng Điểm g, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra đã thu giữ:
01 sợi dây chuyền vàng kiểu ống dũa xen chữ cong bọng; 01 mặt dây chuyền hột đá màu xanh, viền lá hột trắng là tài sản của bà Ngô Thị Cẩm N nên Cơ quan điều tra đã trả cho bà N là phù hợp.
01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Sirius, Biển số 84G1-243.36 là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Thạch Thị L (vợ của bị cáo T) mua trƣớc thời kỳ hôn nhân, bà L không biết T sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà L là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Ngô Thị Cẩm N không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.
- Áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 136; Điểm g, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2017.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về án phí, lệ phí của Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THA thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo; - Bị hại; - Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Thị Bạch Tuyết |