vanban.org

Bản án 167/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Nguyễn Hoàng S tại Cơ sở cai nghiện ma túy số F Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 (Mười tám) tháng, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Nguyễn Hoàng S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét; Pháp lệnh Trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét; Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu bay
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 167/2026/QĐ-TAThành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 6 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Phạm Thị Việt Hà.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân

khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 12 tháng 6 năm 2026, tại điểm cầu Tòa án nhân dân dân khu vực 11 -

Thành phố Hồ Chí Minh và Điểm cầu Cơ sở cai nghiện ma túy số F Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 152/QĐ-TA ngày 05/6/2026 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng S, sinh ngày x/x/1988; Giới tính: Nam; Dân tộc:

Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Hộ khẩu thường trú: 5 M, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: không có nơi cư trú ổn định; Con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Ngọc T1.

Tiền án: Hồ sơ đề nghị thể hiện Nguyễn Hoàng S phạm tội vi phạm quy định

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo Bản án số 141/2008/HSST ngày 25/4/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh); tiền sự: Không.

Có mặt tại phiên họp.

Và có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Văn H1 - Cán bộ Công an phường T,

Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - thành phố Hồ Chí Minh:

Bà Nguyễn Thị Việt Chinh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

1. Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đề nghị

xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoàng S như sau:

Người bị đề nghị Nguyễn Hoàng S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy,

khai nhận sử dụng trái phép chất ma túy ngày 18/3/2026. Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính về an ninh trật tự, an toàn xã hội số 50/BB-VPHC ngày 25/3/2026 và Biên bản xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Hoàng S. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 25/3/2026, trạm y tế phường T cho kết quả Nguyễn Hoàng S nghiện ma túy đá Methamphetamine.

Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập Biên bản vi phạm về cai

nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 50/BB-VPHC ngày 02/4/2026 đối với Nguyễn Hoàng S.

Ngày 08/4/2026, Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh ban

hành văn bản Đề nghị số 50/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoàng S.

2. Tại phiên họp:

2.1. Người bị đề nghị Nguyễn Hoàng S thừa nhận hành vi sử dụng trái phép

chất ma túy, đã được thông báo, đọc hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quá trình lập hồ sơ đã được giải thích quy định pháp luật về việc đăng ký cai nghiện và có ý kiến không đăng ký cai nguyện tự nguyện, không thường xuyên có mặt nhà, chủ yếu sinh sống tại các công trường, đồng ý hồ sơ đề nghị của cơ quan công an và đề nghị xem xét giảm thời gian áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc để sớm về với gia đình.

2.2. Ý kiến đại diện Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh:

Giữ nguyên ý kiến đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí

Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoàng S với thời gian từ 16 tháng đến 18 tháng.

2.3. Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí

Minh:

Về tố tụng: Trình tự thủ tục áp dụng biện pháp xử lý cai nghiện bắt buộc đầy

đủ và đúng quy định pháp luật. Từ khi thụ lý hồ sơ đến khi mở phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận áp dụng biện pháp đưa vào

cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoàng S theo đề nghị của Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh với thời gian chấp hành từ 16 tháng đến 19 tháng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên

họp, căn cứ vào lời trình bày của người bị đề nghị, cơ quan đề nghị tại phiên họp.

XÉT THẤY:

Về thời hiệu, thẩm quyền giải quyết: Hồ sơ đề nghị của Trưởng Công an

phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đối với Nguyễn Hoàng S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 18/3/2026. Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 50/BB-VPHC ngày 02/4/2026 là còn trong thời hiệu, và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính, được sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, được sửa đổi, bổ sung tại Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển, Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu bay, Pháp lệnh Trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng, Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.

Xét hồ sơ đề nghị của Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí

Minh được lập đảm bảo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại Điều 103, 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung năm 2025; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và sửa đổi một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực an ninh, trật tự và Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

Nội dung:

Tại phiên họp, Nguyễn Hoàng S thừa nhận hành vi sử dụng trái phép

chất ma túy, không đăng ký và không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện, đồng ý với hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc là phù hợp với biên bản ghi lời khai và bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đề nghị.

Căn cứ xác minh cư trú tại Công an phường V và Công an phường T, Thành

phố Hồ Chí Minh, Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 25/3/2026 của trạm y tế phường T, có đủ cơ sở xác định Nguyễn Hoàng S không có nơi cư trú ổn định, hiện đang dương tính test Methamphetamine, nghiện ma túy đá Methamphetamine.

Xét thấy, Nguyễn Hoàng S là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành

vi hành chính, nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, là người nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định, không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định của pháp luật, và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Hoàng S đi cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định tại Điều 3, 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm được sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

Về thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc:

Nguyễn Hoàng S tiền sự không có, nhưng đã bị tuyên xử về tội vi phạm quy

định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Tại phiên họp, cũng như quá trình lập hồ sơ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Về tình tiết tăng nặng không có.

Xét đề nghị của Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh và đại

diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoàng S với thời gian chấp hành là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2025 là cần thiết để Nguyễn Hoàng S cắt cơn, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ vào các Điều 27, Điều 32 Luật Phòng chống ma túy;

Căn cứ vào các Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và Điều 110 của Luật

Xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ vào các Điều 3, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số

03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, được sửa đổi, bổ sung tại Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển, Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu bay, Pháp lệnh Trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng, Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án;

Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy

định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và sửa đổi một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực an ninh, trật tự;

Căn cứ Thông tư số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC ngày 01/3/2025 của

Bộ C - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Nguyễn Hoàng S tại Cơ sở cai nghiện ma túy số F Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 (Mười tám) tháng,

kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 25/3/2026).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị đề nghị có quyền khiếu

nại, người đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành quyết

định này.

Cỡ chữ