- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường H - Trộm cắp - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12- TP HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 167/2026/HS-ST Ngày: 25/6/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Thanh Hiển, Bà Phạm Minh Lương
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Đạt– Thư ký TAND Khu vực 12 thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng– Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12, thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 29/2026/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 301/2026/QĐXX-HS ngày 29 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Trường H; Sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
HKTT Ấp An Thạnh, xã Long Điền, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Lê Văn T (không rõ năm sinh) và bà Nguyễn Ngọc L sinh năm 1969; bị cáo là con duy nhất.
Tiền án:
+ Tại Bản án số 83/2022/HS-ST ngày 11/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Nguyễn Trường H bị xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt ngày 19/5/2025.
+ Tại Bản án số 22/2021/HSST ngày 18/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Nguyễn Trường H bị xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt ngày 17/12/2021.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Tại Bản án số 33/2016/HSST ngày 16/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Nguyễn Trường H bị xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Tại Bản án số 03/2010/HSST ngày 10/01/2011 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Nguyễn Trường H bị xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị bắt ngày 15/12/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an Thành phố H (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trường H là người không có việc làm và nơi ở ổn định. Để có tiền tiêu xài cá nhân, H đã nảy sinh ý định tìm người có sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Trong khoảng thời gian từ ngày 04 đến ngày 10/12/2025, H đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04/12/2025, Nguyễn Trường H đi bộ đến phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến trước nhà ông Nguyễn Công M (sinh năm 1960) tại tổ D, ấp P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, H phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 72C1-321.03 để trước nhà, trên xe có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi nên H lén lút đi đến, dắt xe ra ngoài đường rồi ngồi lên xe, nổ máy và điều khiển xe đi vào đường tránh Quốc lộ E thuộc phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi đến khu vực gần rừng cây vắng người qua lại (H không nhớ vị trí cụ thể), H sử dụng chìa khóa tháo biển số 72C1-321.03 vứt bỏ rồi tiếp tục điều khiển xe đi về xã L, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 05/12/2025, H lấy biển số 60C1-919.36 mà H nhặt được trước đó ở xã P, tỉnh Đồng Nai gắn vào xe mô tô đã trộm của ông M và sử dụng làm phương tiện đi lại.
Vụ thứ hai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09/12/2025, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, gắn biển số 60C1-919.36 đi đến phường L, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến nhà bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1952, thường trú tại xóm C H, xã H, tỉnh Thanh Hóa) ơ tổ B, khu phố P, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện cửa hông phía trước nhà không khóa nên H để xe mô tô bên ngoài đường rồi đi bộ vào bên trong nhà bà N. Sau khi quan sát thấy không có người ở nhà, H nhìn thấy chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A30 để trên bàn kính cạnh giường ngủ, đang sạc pin nên dùng tay tháo dây sạc và lấy trộm chiếc điện thoại này, cất giấu vào trong túi quần bên trái rồi đi bộ ra xe. Sau khi trộm được điện thoại, H đem đến tiệm Đ ơ số D, đường V, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Lý Hữu K (sinh năm 1981) làm chủ, bán được 300.000 đồng. Số tiền này H sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 10/12/2025, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, gắn biển số 60C1-919.36 đi đến phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà bà Nguyễn Lan A (sinh năm 1969) ở đường A, ấp B H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện cửa cổng không khóa nên H để xe ngoài đường và đi bộ vào trong nhà. Sau khi quan sát thấy không có người trong nhà, trên bàn gỗ có để 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max nên H lấy trộm điện thoại này, cất giấu vào trong túi quần rồi đi bộ ra xe. Sau khi trộm được tài sản, H đem đến tiệm Đ1 ơ số A ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh, do ông Trần Văn K1 (sinh năm 1984) làm chủ, bán được 2.000.000 đồng và sử dụng tiêu xài cá nhân.
Sau khi bị mất tài sản, ông Nguyễn Công M, bà Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Lan A đã đến Công an Phường trình báo vụ việc. Ngày 15/12/2025, Cơ quan Công an mời Nguyễn Trường H làm việc. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Trường H khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên (BL: 42 - 53).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 02/KL ngày 19/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
“- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A30, màu xanh, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 09/12/2025 (tỷ lệ chất lượng còn lại 60%), tài sản trị giá 1.170.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax, màu tím, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 10/12/2025 (tỷ lệ chất lượng còn lại 80%), tài sản trị giá 15.170.000 đồng”. (BL: 26 - 33).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 03/KL ngày 02/02/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
“- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, loại xe hai bánh, biển số 72C-321.03, màu Đen – Bạc, số máy C12E-3302409, số khung 203BY-502373, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 04/12/2025 (tỷ lệ chất lượng còn lại 20%), tài sản trị giá 3.400.000 đồng”. (BL: 35 - 40).
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A30 do ông Lý Hữu K giao nộp, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax do ông Trần Văn Kim giao N1 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave thu giữ của Nguyễn Trường H, là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Lan A và ông Nguyễn Công M nên ngày 23/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số H4083/QĐ, trả lại tài sản cho bà N, bà A và ông M (BL: 82, 94, 100).
+ Đối với 01 (một) biển số số 60C1-919.36, 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, 01 (một) khẩu trang màu vàng xanh, 01 (một) đôi dép nhựa màu vàng và số tiền 2.950.000 đồng thu giữ của Nguyễn Trường H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh bảo quản, chờ xử lý.
+ Đối với 01 (một) đĩa CD, bên trong có chứa 01 (một) đoạn video trích xuất từ camera an ninh do bà Nguyễn Thị N giao nộp ghi lại hình ảnh Nguyễn Trường H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chuyển theo hồ sơ vụ án.
Phần dân sự: Bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Lan A và ông Nguyễn Công M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự; ông Lý Hữu K, ông Trần Văn K1 không yêu cầu bị can trả lại số tiền thu mua tài sản. (BL: 101-112).
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trường H về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử như sau:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trường H từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đề nghị tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD, bên trong có chứa 01 (một) đoạn video trích xuất từ camera an ninh do bà Nguyễn Thị N giao nộp ghi lại hình ảnh Nguyễn Trường H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số số 60C1-919.36, 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, 01 (một) khẩu trang màu vàng xanh, 01 (một) đôi dép nhựa màu vàng
- Đề nghị tịch thu sung ngân sách số tiền 2.950.000 đồng thu giữ của Nguyễn Trường H,
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Trong quá trình điều tra, bị hại là ông Nguyễn Công M, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Lan A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 12- thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ bao gồm lời khai của bị cáo, bị hại, biên bản hiện trường, biên bản sự việc, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và trên cơ sở thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04/12/2025, tại tổ D, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Trường H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 72C1-321.03, trị giá 3.400.000 đồng của ông Nguyễn Công M.
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09/12/2025, tại tổ B, khu phố P, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Trường H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu S A30, trị giá 1.170.000 đồng của bà Nguyễn Thị N.
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 10/12/2025, tại ấp B H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Trường H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, trị giá 15.170.000 đồng của bà Nguyễn Lan A.
Tổng giá trị tài sản Nguyễn Trường H chiếm đoạt là 19.740.000 đồng.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Nguyễn Trường H đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội.
Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích theo Bản án số 83/2022/HS-ST ngày 11/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, và Bản án số 22/2021/HSST ngày 18/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Như vậy, có đủ căn cứ để xét xử bị cáo Nguyễn Trường H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD, bên trong có chứa 01 (một) đoạn video trích xuất từ camera an ninh do bà Nguyễn Thị N giao nộp ghi lại hình ảnh Nguyễn Trường H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số số 60C1-919.36, 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, 01 (một) khẩu trang màu vàng xanh, 01 (một) đôi dép nhựa màu vàng.
- Đối với số tiền 2.950.000 đồng thu giữ của Nguyễn Trường H: tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận số tiền này là do bị cáo bán các tài sản trộm cắp mà có nên cần tịch thu sung ngân sách.
Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2025.
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD, bên trong có chứa 01 (một) đoạn video trích xuất từ camera an ninh do bà Nguyễn Thị N giao nộp ghi lại hình ảnh Nguyễn Trường H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số số 60C1-919.36, 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, 01 (một) khẩu trang màu vàng xanh, 01 (một) đôi dép nhựa màu vàng.
- Tịch thu sung ngân sách số tiền 2.950.000 đồng thu giữ của Nguyễn Trường H.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (25/6/2026), bị cáo có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp Hồ Chí Minh; - VKSND Tp Hồ Chí Minh; - VKSND KV12- Tp Hồ Chí Minh; - Công an Tp Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp Tp Hồ Chí Minh; - Công an Tp Hồ Chí Minh (PV 06, PC 10) - Phòng THADS KV12- Tp Hồ Chí Minh; - Bị cáo; bị hại; các đương sự khác; - Lưu: HS, THAHS. | THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thu Hà |