- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai giữa ông Lê Văn Đ và Chủ tịch UBND huyện V tỉnh Hưng Yên"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Văn Đ; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 43/2024/HC-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Căn cứ chính? Điều 191 Luật tố tụng hành chính; Điều 225 Luật Tố tụng hành chính; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 167/2025/HC-PT Ngày: 17/3/2025 V/v: “Khiếu kiện Quyết định hành chính về quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hải;
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Xuân Trọng;
Ông Phạm Đình Khánh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lê - Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh N, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa trực tuyến công khai xét xử vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý 77/2025/TBTL-HC ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 43/2024/HC-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1931/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Lê Thị Mai N1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ A phường N, quận L, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
* Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc C - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V; có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện V;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc C - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Mạnh T1 - Chức vụ: Chủ tịch UBND xã X; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Công ty cổ phần T2 (trước đây là Công ty cổ phần Đ1 - Vihajico); Địa chỉ: Khu đô thị T - xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công H - Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần T2; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Lê Thị C1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Chị Lê Thị H1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Đ thôn Y, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà C1 và chị H1: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
Người kháng cáo: Ông Lê Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Theo Biên bản giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình năm 1998 thể hiện, hộ ông Lê Văn Đ có các nhân khẩu được giao đất nông nghiệp là các thành viên hộ gia đình gồm: ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị C1 và chị Lê Thị H1. Tổng diện tích được giao theo tiêu chuẩn nhân khẩu là 1470m2.
Gia đình ông đã bị thu hồi đối với các xứ đồng gồm: Thì Đầm diện tích (81+54+297)m2 và Đồng Dặm diện tích (124m2).
Ngày 24/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V đã chỉ đạo, tổ chức cưỡng chế thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình ông tại xứ đồng Thì Đầm diện tích (81+54+297)m2 tại địa bàn xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên để giao cho Công ty cổ phần T2 (trước đây là Công ty cổ phần Đ1 - V) là chủ đầu tư dự án E. Đối với xứ Đồng Dặm (124m2) thì gia đình ông Đ đã di dời tài sản do bị cưỡng chế đợt 1 từ ngày 09/01/2009 nên thửa đất này không nằm trong phạm vi bị cưỡng chế ngày 24/4/2012.
Hành vi chỉ đạo tổ chức cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V đã vi phạm các quy định của pháp luật đất đai, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bởi các lý do sau đây:
- Dự án Ecopark Văn G không chứng minh được lý do thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định tại Điều 39 Luật Đất đai 2003.
- Tại thời điểm cưỡng chế thu hồi đất, Chủ tịch UBND huyện V chưa đủ căn cứ pháp lý về văn bản phê duyệt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp có thẩm quyền; không có Thông báo thu hồi đất, không ra quyết định thu hồi đất hoặc quyết định cưỡng chế thu hồi đất; không xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; UBND xã không niêm yết quyết định cưỡng chế thu hồi đất tại trụ sở UBND xã theo quy định.
- Chủ tịch UBND huyện V chỉ đạo tổ chức cưỡng chế thu hồi đất mà không bàn bạc với các hộ có đất bị thu hồi và Hội đồng nhân dân các cấp là trái pháp luật.
Người khởi kiện yêu cầu Tòa án: Tuyên bố hành vi cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V là trái quy định pháp luật; yêu cầu Công ty cổ phần T2 ngừng ngay hoạt động thi công và hoàn trả tài sản đất đai đã được bàn giao do hành vi cưỡng chế ngày 24/4/2002 của Chủ tịch UBND huyện V, tỉnh Hưng Yên.
* Người bị kiện Chủ tịch UBND huyện V trình bày:
- Về chủ trương đầu tư:
Dự án Khu đô thị T được triển khai theo các Quyết định:
Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thu hồi 5.540.712m2 đất tại các xã X, P, C, L, T, thị trấn V thuộc huyện V; các xã H, Y, Y thuộc huyện Y và các xã Đ, T, D thuộc huyện K, tỉnh Hưng Yên; giao toàn bộ diện tích đất thu hồi cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án xây dựng tuyến đường từ cầu T đi thị xã H (đoạn từ huyện V đến xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên) theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng;
Quyết định 2549/QĐ-UB ngày 21/10/2004 của UBND tỉnh H về việc thu hồi 4.990.706m2 đất theo Quyết định số 742/QĐ- Tg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ tại các xã X, C, Phụng C2 và thị trấn V; giao toàn bộ diện tích đất cho Công ty cổ phần Đ1 để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị T, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng (phần diện tích thu hồi tại xã X 1.219.348m2);
Quyết định số 2550/QĐ-UB ngày 21/10/2004 của UBND tỉnh H về việc thu hồi 550.006m2 đất theo Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ tại các xã X, C, Phụng C2 và thị trấn V; giao 541.133m2 đất cho Công ty cổ phần Đ1 để xây dựng đường từ cầu T đi thị xã H (đoạn từ huyện V đến xã D, huyện K) và 8.873m2 đất để làm mương thủy lợi mới theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
Ngày 8/6/2005, UBND tỉnh H ban hành Quyết định số 2006/QĐ-UB ngày 8/6/2005 về việc phê duyệt phương án bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, giao đất cho Công ty Cổ phần Đ1 để xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu Đô thị - , địa phận xã X, huyện V. Trong đó có nội dung bồi thường đất nông nghiệp cho các hộ dân là 466.605,82m2 x 43.425 đồng/m2.
- Về công tác giải phóng mặt bằng:
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện V đã tiến hành kiểm kê, lập phương án trình UBND huyện V ban hành quyết định phê duyệt; tổ chức niêm yết công khai phương án bồi thường để người dân được biết và kiểm tra; tổ chức chi trả cho các hộ tự nguyện nhận tiền và bàn giao mặt bằng; chuyển tiền vào Ngân hàng đối với các hộ chưa nhận tiền (theo Công văn số 781/CV-STC ngày 29/9/2008 của Sở Tài chính tỉnh H).
Tổng số hộ gia đình đã nhận tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng và bàn giao mặt bằng tính đến trước thời điểm thực hiện việc cưỡng chế là 1.560 hộ/1.720 hộ; tổng số hộ gia đình còn lại không nhận tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng và không bàn giao mặt bằng tính đến trước thời điểm thực hiện cưỡng chế: 160 hộ. Diện tích phải cưỡng chế khoảng 5,86 ha.
(Tính đến thời điểm hiện nay, số hộ gia đình đã nhận tiền giải phóng mặt bằng: 1.623 hộ/1.720 hộ. Số hộ gia đình không nhận tiền giải phóng mặt bằng là 97 hộ).
- Về công tác tuyên truyền, vận động: Huyện ủy, UBND huyện V và UBND xã X đã tổ chức rất nhiều hội nghị họp dân và đối thoại để tuyên truyền, vận động, giải thích, thuyết phục các hộ dân ủng hộ dự án; phổ biến chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB cùng các khoản hỗ trợ của Chủ đầu tư nhằm đảm bảo lợi ích cho người có đất bị thu hồi (phát cho từng hộ dân bộ tài liệu tuyên truyền).
- Về công tác tổ chức cưỡng chế:
Do hộ gia đình ông Lê Văn Đ không thực hiện quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền (Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2549/QĐ-UB ngày 21/10/2004 của UBND tỉnh H), không thực hiện việc nhận tiền bồi thường GPMB, không chấp hành việc di chuyển cây cối, hoa màu và các loại tài sản trên đất để thực hiện Dự án theo Thông báo số 34/TB-HĐBT ngày 23/11/2011 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện V, nên hộ gia đình đã có hành vi vi phạm hành chính về pháp luật đất đai quy định tại khoản 1 Điều 17 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai do “không trả lại đất đúng thời hạn theo Quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”.
Ngày 05/12/2011, đại diện Hội đồng, UBND xã X và cơ sở thôn đã lập biên bản bàn giao đất với hộ gia đình ông Đ. Theo đó, hộ gia đình ông Đ phải tiến hành bàn giao các thửa đất thu hồi vào dự án Khu đô thị thuộc địa phận xã X, các Xứ đồng gồm: Thì Đầm diện tích (81+54+297)m2. Tuy nhiên, hộ gia đình ông Đ không ký biên bản bàn giao đất.
Ngày 12/12/2011, UBND xã X lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Đ với hành vi không trả lại đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Ngày 12/12/2011, Tổ công tác thôn đã tiến hành giao biên bản vi phạm hành chính nhưng ông Đ không ký biên bản.
Ngày 13/12/2011, Chủ tịch UBND huyện V (ủy quyền cho ông Chu Quốc H2 - Phó Chủ tịch UBND huyện V theo văn bản ủy quyền ngày 02/12/2011) đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5426/QĐ-XPHC đối với ông Lê Văn Đ vì đã có hành vi không thực hiện việc giải tỏa tài sản trên đất, bàn giao đất đúng thời hạn.
Ngày 14/12/2011, Tổ công tác thôn đã đến nhà giao quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng ông Đ không hợp tác và không ký biên bản.
Ngày 05/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V đã ban hành Quyết định số 556/QĐ -CCK về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp cưỡng chế khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Lê Văn Đ; lý do cưỡng chế: Không thực hiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; địa điểm thực hiện cưỡng chế: Xứ đồng Thì Đầm xã X, huyện V; biện pháp cưỡng chế: Giải tỏa mặt bằng trên thực địa để bàn giao đất theo các Quyết định và thông báo của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; thời gian thực hiện cưỡng chế: Từ ngày 20/4/2012.
Ngày 05/4/2012, Tổ công tác thôn đã đến gia đình để giao quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác cho ông Đ nhưng ông Đ không hợp tác.
Ngày 23/4/2012, UBND huyện V ban hành Thông báo số 43/TB-UBND về việc tổ chức hỗ trợ thi công và cưỡng chế bàn giao đất thuộc địa phận xã X để thực hiện dự án Khu Đô thị -.
Ngày 24/4/2012, UBND huyện V tổ chức thực hiện cưỡng chế ngoài thực địa; kết quả cưỡng chế được lập thành biên bản và gửi cho hộ gia đình nhưng hộ gia đình không hợp tác.
Người bị kiện xác định về tính hợp pháp, thẩm quyền, trình tự thủ tục, căn cứ ban hành các quyết định hành chính có liên quan (quyết định thu hồi đất, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai) là phù hợp với quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Căn cứ các quy định của pháp luật về việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; sau khi rà soát, đối chiếu với các văn bản thuộc hồ sơ cưỡng chế và trình tự các bước thực hiện cưỡng chế nêu trên, Chủ tịch UBND huyện V tổ chức cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4/2012 đối với người khởi kiện là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
- UBND huyện V, tỉnh Hưng Yên thống nhất quan điểm, đề nghị của người bị kiện Chủ tịch UBND huyện V và không bổ sung nội dung gì khác.
- UBND xã X, huyện V có quan điểm xác định việc cưỡng chế thu hồi đất của Chủ tịch UBND huyện V đối với hộ gia đình người khởi kiện đã bảo đảm đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật nên đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
- Công ty cổ phẩn Tập đoàn T2 trình bày: Toàn bộ dự án của Công ty được Nhà nước giao đất là đúng quy định của pháp luật, do đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
- Các thành viên hộ gia đình có đất bị thu hồi đều thống nhất với yêu cầu của người khởi kiện, không ai có ý kiến khác.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 43/2024/HC-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã căn cứ khoản 3, khoản 4, khoản 8, khoản 9 và khoản 10 Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 60, Điều 115, Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 206, Điều 348 của Luật tố tụng hành chính; Điều 23 Luật đất đai năm 1993, sửa đổi, bổ sung năm 2001; Điều 39, 40, 44 Luật đất đai năm 2003; Điều 20, 55, 56, 66, 67 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2008; Điều 4, 5, 17, 25 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 4, 6, 7, 8, 9 Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; quyết định Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Đ về việc yêu cầu Tòa án tuyên hành vi tổ chức cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V đối với hộ gia đình ông là trái pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/7/2024 người khởi kiện ông Lê Văn Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện vắng mặt nhưng có mặt người khởi kiện; người bị kiện và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có văn bản xin xét xử vắng mặt.
Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích tài liệu có trong hồ sơ có ý kiến thể hiện: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các quy định pháp luật bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào kết quả tranh tụng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
. Về tố tụng:
. Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện vắng mặt nhưng có mặt người khởi kiện; người bị kiện và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có văn bản xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
. Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của người khởi kiện gửi đến Tòa án đảm bảo đúng thời hạn; hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 204, Điều 205 và Điều 206 Luật Tố tụng hành chính, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
. Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết:
Ông Lê Văn Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi tổ chức cưỡng chế thu hồi đất của UBND huyện V ngày 24/4/2012 đối với hộ gia đình ông tại xứ đồng Thì Đầm thuộc xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên là trái pháp luật. Đây là hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của hộ ông Lê Văn Đ nên là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3 Luật Tố tụng Hành chính. Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thụ lý, giải quyết và xác định còn trong thời hiệu khởi kiện là đúng quy định tại Điều 30, khoản 4 Điều 32 và điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính.
Đối với yêu cầu của người khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty Cổ phần T2 phải ngừng ngay việc thi công và trả lại quyền sử dụng đất cho người khởi kiện không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 3 và khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là đúng quy định pháp luật.
Đối với Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thu hồi 5.540.172m2 đất tại các xã X, P, C, L, T, thị trấn V thuộc huyện V; các xã H, Y, Y thuộc huyện Y và các xã Đ, T, D thuộc huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quyết định số 2549/QĐ-UB ngày 21/10/2004 của UBND tỉnh H về việc thu hồi 4.990.706m2 đất; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5461/QĐ
- XPHC ngày 13/12/2011; Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế số 577/QĐ
- CCK ngày 05/04/2012 là các quyết định hành chính có liên quan đến hành vi hành chính bị kiện, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ khoản 1 Điều 6; điểm đ khoản 3 Điều 191 Luật tố tụng hành chính để xem xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính này là đúng quy định.
. Về nội dung: Xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính bị khởi kiện:
. Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất cho chủ đầu tư.
Việc thu hồi đất và giao đất cho Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần T2 (trước đây là Công ty cổ phần Đ1) để thực hiện Dự án Khu đô thị và thương mại dịch vụ V được thực hiện theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
Tại Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ có nội dung: Thu hồi 5.540.712m2 đất tại các xã X, P, C, L, T, thị trấn V thuộc huyện V; các xã H, Y, Y thuộc huyện Y và các xã Đ, T, D thuộc huyện K, tỉnh Hưng Yên; giao toàn bộ diện tích đất thu hồi cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án xây dựng tuyến đường từ cầu T đi thị xã H đoạn từ huyện V đến xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong đó, diện tích đất giao cho C3 đầu tư đã bỏ vốn xây dựng đường là 4.990.706m2/tổng số 5.540.712m2. Chủ đầu tư sử dụng diện tích đất được giao trên theo đúng quy hoạch và dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Vị trí, ranh giới của diện tích đất giao cho C3 đầu tư (trong đó đã bao gồm 1.292.618m2 tại xã X) được xác định theo các tờ bản đồ địa chính do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H lập năm 2004.
Thực hiện Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ; ngày 21/10/2004, UBND tỉnh H ban hành Quyết định số 2549/QĐ-UB về việc thu hồi 4.990.706m2 đất tại các xã X, C, Phụng C2 và thị trấn V; giao toàn bộ diện tích đất cho Công ty cổ phần Đ1 để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị T, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng (phần diện tích thu hồi tại xã X 1.219.348m2). Đồng thời, UBND tỉnh H ban hành Quyết định số 2550/QĐ-UB về việc thu hồi 550.006m2 đất tại các xã X, C, Phụng C2 và thị trấn V; giao 541.133m2 đất cho Công ty cổ phần Đ1 để xây dựng đường từ cầu T đi thị xã H đoạn từ huyện V đến xã D, huyện K và 8.873m2 đất để làm mương thủy lợi mới theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
Ngày 08/6/2005, UBND tỉnh H ban hành Quyết định số 2006/QĐ-UB về việc phê duyệt phương án bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, giao đất cho Công ty Cổ phần Đ1 để xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu Đô thị, thương mại, du lịch V, địa phận xã X, huyện V; trong đó có nội dung bồi thường đất nông nghiệp cho các hộ dân là 466.605,82m2 x 43.425đ/m2.
Theo quy định tại Điều 23 Luật đất đai năm 1993, sửa đổi, bổ sung năm 2001 và khoản 2 Điều 1 Nghị định số 66/NĐ-CP ngày 28/9/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 04/NĐ-CP ngày 11/2/2000 thì Chính phủ có thẩm quyền thu hồi đất, giao đất theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Do đó, ngày 30/6/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 742/QĐ-TTg có nội dung thu hồi 5.540.712m2 đất tại một số xã của huyện V, trong đó có xã X và giao cho chủ đầu tư thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trên địa bàn huyện V, tỉnh Hưng Yên là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật đất đai.
Theo quy định tại Điều 44 Luật đất đai năm 2003 thì cả UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện đều có thẩm quyền thu hồi đất. Do đó, ngày 21/10/2004, UBND tỉnh H ban hành Quyết định số 2549/QĐ-UB có nội dung thu hồi đất tại một số xã, thị trấn của huyện V và giao cho Công ty cổ phần Đ1 để thực hiện các dự án tại huyện V là đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định của Luật đất đai năm 2003 và Quyết định số 742/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 06/8/2007, UBND tỉnh H ban hành Quyết định số 1331/QĐ-UB về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại xã X, huyện V để xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị T (đợt 5). Tổng cộng có 141 hộ được nhận tiền bồi thường.
Ngày 29/9/2008, UBND huyện V ban hành Quyết định số 2788/QĐ-UBND, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với các hộ thuộc diện kiểm kê bắt buộc khi Nhà nước thu hồi đất tại xã X, huyện V, để thực hiện dự án Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị T. Diện tích đất bị thu hồi được xác định theo quyết định này là 194.416,31m2; tổng số hộ có đất thu hồi được bồi thường là 304 hộ.
Sau đó, UBND xã X tổ chức niêm yết công khai phương án bồi thường để người dân được biết và kiểm tra; tổ chức chi trả cho các hộ tự nguyện nhận tiền và bàn giao mặt bằng; chuyển tiền vào Ngân hàng đối với các hộ chưa nhận tiền. Kết quả thực hiện giải phóng mặt bằng thể hiện, số hộ gia đình đã nhận tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng là 1.623 hộ/1.720 hộ, số hộ gia đình không nhận tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng là 97 hộ.
Như vậy, UBND tỉnh H, UBND huyện V và UBND xã X đã thực hiện đúng quy định của pháp luật đất đai về thẩm quyền, trình tự, thủ tục phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và tổ chức chi trả tiền bồi thường cho các hộ dân có đất bị thu hồi tại xã X, huyện V theo đúng quy định của pháp luật đất đai.
Tại các quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất của UBND tỉnh H và UBND huyện V đều có phụ lục kèm theo là danh sách các hộ dân của xã X có đất bị thu hồi, trong đó thể hiện cụ thể diện tích đất của từng hộ bị thu hồi và số tiền được bồi thường. Đồng thời các phương án bồi thường này được niêm yết công khai trong khu dân cư nên người khởi kiện biết rõ mình thuộc trường hợp có đất bị thu hồi. Mặc dù, người khởi kiện không khiếu nại về diện tích đất và tài sản trên đất bị thu hồi cũng như đơn giá bồi thường nhưng người khởi kiện lại không đồng ý nhận tiền bồi thường, không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
. Đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 5426/QĐ-XPHC ngày 13/12/2011; Quyết định về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 556/QĐ-CCK ngày 5/4/2012; hành vi tổ chức hỗ trợ thi công và cưỡng chế bàn giao đất thuộc địa phận xã X, huyện V ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V để thực hiện Dự án Khu đô thị, thương mại, du lịch V.
Ngày 22/11/2011, UBND huyện V ban hành Kế hoạch số 34/KH-UBND tổ chức bàn giao đất ngoài thực địa tại xã X để thực hiện dự án Khu đô thị , du lịch V. Ngày 23/11/2011, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện V ban hành Thông báo số 34/TB-HĐBT về việc di chuyển cây cối, hoa màu và các loại tài sản trên đất để thực hiện dự án. Các Thông báo này được phát trên hệ thống loa truyền thanh xã và được niêm yết tại trụ sở UBND xã X, Nhà văn hóa các thôn, được chứng minh bằng Biên bản làm việc ngày 01/12/2011. Theo nội dung của Thông báo số 34/TB-HĐBT, đối với các hộ đã nhận tiền bồi thường đã cam kết bàn giao mặt bằng thì trong 30 ngày kể từ ngày thông báo phải hoàn thành việc di chuyển cây cối, hoa màu; đối với những hộ chưa nhận tiền bồi thường, thời gian tự nguyện di chuyển xong trước trước ngày 05/12/2011.
Ngày 28/11/2011, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện V ban hành Kế hoạch số 35/KH-HĐ về tổ chức thực hiện việc bàn giao đất ngoài thực địa tại xã X để thực hiện dự án Khu đô thị ,.
Ngày 05/12/2011, Tổ công tác của UBND xã X đề nghị các hộ gia đình chưa nhận tiền bồi thường, chưa bàn giao đất ký biên bản bàn giao đất để thực hiện dự án; tuy nhiên hộ gia đình ông Đ không ký biên bản.
Do người khởi kiện không giao đất theo đúng thời hạn theo Thông báo số 34/TB-HĐBT, nên ngày 12/12/2011 UBND xã X đã lập Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với người khởi kiện do đã có hành vi vi phạm hành chính không trả lại đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, người khởi kiện không ký biên bản vi phạm và từ chối nhận biên bản vi phạm.
Ngày 13/12/2011, Chủ tịch UBND huyện V ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với một số hộ dân của xã X, trong đó có hộ gia đình ông Lê Văn Đ do đã có hành vi vi phạm là không thực hiện việc giải tỏa tài sản trên đất, bàn giao đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất và thông báo của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đã vi phạm quy định tại Điều 39, 40 Luật đất đai năm 2003, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 17 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Theo các quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì người vi phạm ngoài việc phải chịu hình thức xử phạt tiền, còn buộc phải di chuyển cây cối, hoa màu, các loại tài sản khác trên đất để bàn giao đúng thời hạn. Thời hạn người vi phạm thực hiện quyết định hành chính là 10 ngày, kể từ ngày được giao quyết định, quá thời hạn mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế. Ông Lê Văn Đ được tổ công tác của UBND xã X giao trực tiếp Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã từ chối nhận văn bản.
Như vậy, UBND huyện V đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hộ ông Lê Văn Đ là có căn cứ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định tại các Điều 20, 55, 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và Điều 39, 40 Luật đất đai năm 2003, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 17 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Ngày 05/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V ban hành Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác số 556/QĐ-CCK để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với hộ ông Lê Văn Đ do không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Theo nội dung của Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì địa điểm cưỡng chế tại các xứ đồng của xã X, biện pháp cưỡng chế là giải tỏa mặt bằng trên thực địa để bàn giao đất theo các quyết định và thông báo của cơ quan Nhà nước, thời gian cưỡng chế từ ngày 20/4/2012. Hộ gia đình ông Đ được tổ công tác của UBND xã X giao trực tiếp Quyết định cưỡng chế nhưng đã từ chối nhận văn bản.
Ngày 19/4/2012, UBND huyện V ban hành Thông báo số 41/TB-UBND về việc tổ chức hỗ trợ thi công và cưỡng chế bàn giao đất thuộc địa phận xã X để thực hiện dự án Khu đô thị , du lịch V.
Ngày 23/4/2012, UBND huyện V ban hành Thông báo số 43/TB-UBND về việc tổ chức hỗ trợ thi công và cưỡng chế bàn giao đất thuộc địa phận xã X để thực hiện dự án Khu đô thị , du lịch V.
Ngày 24/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V tổ chức thực hiện cưỡng chế ngoài thực địa. Kết quả cưỡng chế được lập thành biên bản và gửi cho hộ ông Đ nhưng hộ gia đình không hợp tác. Cùng ngày, đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H, UBND huyện V và UBND xã X đã ký Biên bản bàn giao đất (mặt bằng thi công) cho Chủ đầu tư sau khi hoàn thành xong cưỡng chế (có Biên bản bàn giao đất).
Như vậy, việc Chủ tịch UBND huyện V ban hành Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 05/4/2012 và tổ chức cưỡng chế giải phóng mặt bằng, hỗ trợ thi công ngày 22/4/2012 là có căn cứ, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định tại các điều 66, 67 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và các điều 4, 6, 7, 8, 9 Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
. Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định pháp luật và bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới có thể làm thay đổi bản chất vụ án nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa.
. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lê Văn Đ phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Văn Đ; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 43/2024/HC-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
2. Về án phí: Ông Lê Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được đối trừ số tiền 300.000 đồng ông Lê Văn Đ đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000245 ngày 01/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
3. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án.
* Nơi nhận:
| - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Cục THADS tỉnh Hưng Yên; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: HSVA, Phòng HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Hải |