vanban.org

Bản án 167/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 03/05/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/05/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

. Căn cứ điểm a khoản Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình

. . Không chấp nhận kháng cáo của à Vương Thị N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 49 2023 HS-ST ngày

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? . Căn cứ điểm a khoản Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/HS-PT
Ngày: 03/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Tồn

Các Thẩm phán:

Ông Lê Tự

Ông Võ Ngọc Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Đoàn Minh Lộc, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân

cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đã xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 99 2024 TLPT-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 đối v i ị cáo Nguyễn Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do có kháng cáo của ị hại à Vương Thị N đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 0 2024 HS-ST ngày 04 0 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

Bị cáo:

Nguyễn Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 28 02 997; Nơi sinh:

tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9 2; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn D, sinh năm: 973 và à Lê Thị T, sinh năm 976; Vợ tên: Đào Thị V, sinh năm: 200 ; Bị cáo có 0 người con sinh năm 2022; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo ị ắt tạm giam từ ngày 2 9 2022 đến nay (Có mặt).

Người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại có kháng cáo: Bà Vương Thị N, sinh năm 967; Nơi cư trú: B T, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)

- Người bào chữa của bị cáo: Ông Hoàng Minh T thuộc Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh K. Địa chỉ: A P, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

nhưng không ị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H làm công việc môi gi i, hỗ trợ đầu tư thị trường ngoại hối

Forex. Trong quá trình H tham gia hỗ trợ đầu tư thị trường ngoại hối Forex, H có tham gia trong nhóm đầu tư tài chính, tiền ảo trên mạng xã hội và quen iết một người có tài khoản zalo tên “Lực” (không xác định được nhân thân lai lịch), L gi i thiệu cho H sàn giao dịch Forex Rock F (tên miền R.vn giao dịch trên ứng dụng MT4) và L có thể tạo ra được các tài khoản Demo Forex là tài khoản ảo dùng để giao dịch trên sàn F1 (tài khoản này dùng để chơi thử, có thể giao dịch ình thường nhưng tiền là ảo và không rút được tiền).

Khoảng tháng 5 2022, trong nhóm Z “Đầu tư tài chính”, H có tài khoản

Zalo tên “Đức M” thấy có tài khoản Zalo tên “Hang Chi V1” của à Vương Thị N, H làm quen và gi i thiệu H là người hỗ trợ đầu tư, gỡ cứu các tài khoản giao dịch (hỗ trợ gỡ khi ị kẹt lệnh, hỗ trợ khi tài khoản đang ị thua lỗ). H có hỗ trợ tư vấn cho N khi đầu tư ở một sàn giao dịch khác nhưng không được vẫn ị thua lỗ hết. Sau đó, à N muốn tiếp tục đầu tư để gỡ lại, H nói nếu à N tiếp tục đầu tư vào sàn đó thì vẫn sẽ thua lỗ và H cũng không được hoa hồng, à N nhờ H tìm cho à sàn khác có tiền thưởng cao (tức là tiền khuyến mãi khi nạp tiền đầu tư) và hỗ trợ giao dịch cho à N. H đã gi i thiệu cho à N đầu tư vào sàn Forex R (tên sàn Rockfort.vn). Lúc này, H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của à N nên đã đưa ra những thông tin gian dối để à N tin tưởng đầu tư tiền nhằm chiếm đoạt, cụ thể: H gi i thiệu ản thân là người môi gi i, hỗ trợ khách hàng của sàn này và có kinh nghiệm đầu tư từ lâu, H sẽ cùng góp vốn đầu tư cùng N mỗi người 50%, nếu thua lỗ sàn giao dịch sẽ hỗ trợ lại cho N 30% tiền thua thì N đồng ý góp vốn cùng đầu tư v i H. Lúc này, H sử dụng thủ đoạn nói v i N đầu tư tiền và H đưa cho N tài khoản ảo Demo Forex để N chơi rồi H sẽ lấy tiền của N để tiêu xài cá nhân. H nói N gửi hồ sơ (gồm hình ảnh chứng minh nhân dân, số điện thoại, địa chỉ email, ằng lái xe...) cho H để tạo tài khoản giao dịch trên sàn Forex R, nhưng thực chất H không tạo tài khoản thật mà chỉ gửi tài khoản ảo Demo F2 mà H đã nhờ L tạo trư c đó cho N để chơi. H tạo địa chỉ Gmail giả của sàn Forex R là [email protected] để gửi thông tin về tài khoản Demo Forex do H chuẩn ị trư c đó cho N thông qua tài khoản gmail của à N là Ngavc [email protected] v i tên đăng nhập là “ 9902 45” có mật khẩu “ xjcqxg” để N đăng nhập. Sau đó H nói à N chuyển tiền đến các tài khoản cá nhân do H gửi để ắt đầu chơi. Sau đó à N đã chuyển cho H 05 lần tiền đến các số tài khoản do H cung cấp gồm:

- Ngày 02 5 2022, N chuyển số tiền 69.000.000đ, ngày 04 5 2022 N

chuyển số tiền 46.000.000đ vào tài khoản V2 do H cung cấp là 97042292060 924 690 mang tên Trần Thanh L . Sau khi N chuyển tiền cho H, thì H tạo cho tài khoản Demo Forex của N có số tiền tương ứng v i tiền N đã chuyển cho H cộng thêm số tiền H nói góp chung v i à N tổng là 0.000 USD tương ứng v i khoảng 230.000.000đ. Sau đó H và N đặt lệnh đầu tư làm cho tài khoản đầu tư có lãi, được khoảng một tuần thì H đặt lệnh làm cho tài khoản thua lỗ hết và H thông áo tài khoản ị cháy. N muốn đầu tư thêm để gỡ và H đề nghị góp thêm vốn mỗi người 50% để đầu tư chung.

- Ngày 6 5 2022, N chuyển số tiền 230.000.000 đồng; ngày 7 5 2022, N

chuyển số tiền 70.000.000 đồng vào tài khoản V2 do H cung cấp là 9704229203669409487 mang tên Lê Thanh P. Sau khi à N chuyển tổng số tiền là 400.000.000 đồng, H tiếp tục tạo cho tài khoản Demo Forex của N có số tiền là tương ứng 37.000 USD, ao gồm số tiền của N đầu tư và số tiền H nói cùng góp vốn đầu tư v i N và tiền công ty hỗ trợ 30% do thua lỗ trư c đó như thông tin H đã đưa ra trư c đó để N tin tưởng và tiếp tục chơi. Ban đầu khi N và H đặt lệnh đầu tư làm cho tài khoản có lãi, nhưng sau đó H đặt lệnh làm tài khoản ị thu lỗ dần đến khi âm không rút ra được.

- Ngày 6 6 2022, H nói N lập tài khoản m i để đầu tư lại, còn số tiền

thua lỗ sẽ được hỗ trợ hoàn lại 40% để N tin tưởng tiếp tục đầu tư tiền cho H. Sau đó H dùng Gmail giả [email protected] để gửi thông tin về tài khoản ảo Demo Forex do H chuẩn ị trư c đó cho N v i tên đăng nhập là “ 99002 63” có mật khẩu “0hOimcw” để N đăng nhập tiếp tục chơi và N đã chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản V2 do H cung cấp là 970422920 327094394 mang tên Lê Thanh P.

Sau khi đầu tư và đặt lệnh có lời, N có ý định rút tiền đầu tư 20.000.000

đồng. H sợ ị lộ nên đã xóa tài khoản zalo “Đức Mạnh”, chặn liên lạc v i N và thay đổi mật khẩu của tài khoản ảo Demo Forex giao dịch trên sàn Forex R của N.

Qua điều tra xác định, sau khi nhận được tiền của N, H đã chuyển đến các

tài khoản cá nhân của Nguyễn Trà M , Đàm Ngọc T2, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Văn H, Bùi Thị Bích N , Hoàng Tấn V3, Vũ Thị H , Phạm Thị H2, Phạm Thị T4, Nguyễn Thị H3 để rút tiền mặt. Ngoài ra H còn chuyển một phần số tiền nhận được từ N để mua tiền ảo USDT của Nguyễn Sĩ T5, Võ Cộng S, Tống Thị Mai sau đó án đi để nhận tiền.

Toàn ộ số tiền 635.000.000 đồng H đã sử dụng tiêu xài cho cá nhân như

ăn uống, thuê nhà và dùng để đầu tư F2, B, chứng khoán nhưng sau đó thua lỗ hết. Quá trình điều tra, gia đình ị cáo đã trả cho ị hại Vương Thị N số tiền 300.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. T nh ng nội dung đ đư c xác đ nh nêu trên tại n án h nh s s thẩm s 4

HS-ST ngày

c a Tòa án nhân dân t nh on Tumđ quy t đ nh:

Tuyên ố ị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 74; điểm , s, q khoản , khoản 2 Điều

5 ; điểm g khoản Điều 52; khoản Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự 20 5. Xử phạt ị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt tạm giữ, tạm giam ngày 2 9 2022.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Áp dụng Điều

357, 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 20 5.

Buộc ị cáo Nguyễn Văn H phải trả cho ị hại à Vương Thị N số tiền là

335.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và

quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 6 0 2024, ị hại à Vương Thị N kháng cáo xin đề nghị xem xét

lại các tình tiết liên quan vụ án, tăng hình phạt và ồi thường các chi phí đi lại quá trình điều tra và các chi phí khác liên quan đến đơn kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ị hại à Vương Thị N có đầy đủ

nội dung theo thủ tục kháng cáo và nằm trong thời hạn kháng cáo nên đảm ảo hợp lệ.

Về nội dung: Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày

2 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xử ị cáo Nguyễn Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 74 Bộ luật hình sự v i án 09 năm tù là thỏa đáng. Bà Vương Thị N kháng cáo tăng hình phạt và ồi thường các chi phí đi lại quá trình điều tra và các chi phí khác liên quan đến đơn kháng cáo nhưng không có tình tiết gì m i. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ ]. Tại phiên tòa ị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận: Là người hỗ trợ đầu tư

thị trường ngoại hối Forex và có thể tạo ra được các tài khoản Demo Forex dùng để giao dịch nhưng không rút được tiền. Khi Vương Thị N có nhu cầu đầu tư vào thị trường chứng khoán, ị cáo đã đưa ra những thông tin gian dối để N tin tưởng nhiều lần chuyển tiền đầu tư v i tổng số tiền là 635.000.000 đồng. Toàn ộ số tiền nêu trên H không dùng để đầu tư vào sàn chứng khoán mà chiếm đoạt sử dụng phục vụ cho mục đích tiêu xài cá nhân như ăn uống, thuê nhà và dùng để đầu tư F2, B, chứng khoán nhưng sau đó thua lỗ hết. V i hành vi nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49 2023 HS-ST ngày

2 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đã xét xử ị cáo Nguyễn Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 74 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của ị hại Vương Thị N đề nghị xem xét lại các tình

tiết liên quan vụ án, tăng hình phạt và ồi thường các chi phí đi lại quá trình điều tra và các chi phí khác liên quan đến đơn kháng cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của ị cáo trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật ảo vệ. Toàn ộ số tiền 635.000.000 đồng H đã sử dụng tiêu xài cho cá nhân như ăn uống, thuê nhà và dùng chơi chứng khoán nhưng sau đó thua lỗ hết. Quá trình điều tra, gia đình ị cáo đã ồi thường cho ị hại 300.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội do ị cáo gây ra, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm , s, q khoản , khoản 2 Điều 5 ; điểm g khoản Điều 52; khoản Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt ị cáo mức án 09 năm tù là phù hợp.

[2. ] Đối v i yêu cầu ồi thường các chi phí đi lại quá trình điều tra truy

tố xét xử cũng các chi phí khác liên quan đến đơn kháng cáo. Tại phiên tòa à V4 yêu cầu tính theo ngày công lao động, ị cáo H phải ồi thường 2 tỷ đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo H có hành vi gian dối chiếm đoạt số tiền 635.000.000 đồng nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 74 Bộ luật hình sự và có nghĩa vụ ồi thường. Quá trình điều tra gia đình ị cáo đã ồi thường cho ị hại 300.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên uộc ị cáo phải tiếp tục ồi thường và trả lãi theo quy định pháp luật là đúng. Quyền và nghĩa vụ của ị hại được thực hiện theo Điều 62 BLTTHS. Tại phiên tòa phúc thẩm, ị hại Vương Thị N không cung cấp tình tiết gì m i nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ị hại.

Các phần khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã

có hiệu lực pháp luật.

Theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số

326/2016/NQ-UBTVQH 4 ngày 30 2 20 6 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án ị hại Vương Thị N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

. Căn cứ điểm a khoản Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình

sự.

. . Không chấp nhận kháng cáo của à Vương Thị N, giữ nguyên Bản án

hình sự sơ thẩm số 49 2023 HS-ST ngày

2 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

.2 Tuyên ố ị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài

sản”.

- Căn cứ a khoản 4 Điều 74; điểm , s, q khoản , khoản 2 Điều 5 ; điểm

g khoản Điều 52; khoản Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày

ắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/9/2022.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357,

584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 20 5.

Buộc ị cáo Nguyễn Văn H phải trả cho ị hại à Vương Thị N số tiền là

335.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày ản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn

yêu cầu thi hành án dân sự, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi v i mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng v i thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí: Bị hại Vương Thị N không phải chịu án phí dân sự phúc

thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho à Vương Thị N số tiền 300.000 đồng đã nộp theo iên lai thu số 00000 3 ngày 3 0 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

N i nhận:

Cỡ chữ