vanban.org

Bản án 167/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của bà Long Thị H đối với ông Lường Văn K1. Xử cho chị bà Long Thị H được ly hôn với ông Lường Văn K1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Long Thị H - Lương Văn K"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 20-12-2024.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch

Ông Đinh Xuân Dậu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 872/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Long Thị H, sinh năm 1969.

- Bị đơn: Ông Lương Văn K, sinh năm 1970.

Cùng địa chỉ: Đường A, tổ A, ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Bà H, ông K vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 31/7/2024 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn bà Long Thị H trình bày:

Bà và ông Lương Văn K xây dựng gia đình với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn theo giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 22 tháng 3 năm 2017. Việc kết hôn do bà và ông K đều tự nguyện. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K. Nguyên nhân bà H yêu cầu ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, ông K còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Hiện bà H xác định không còn tình cảm với ông K, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên yêu cầu được giải quyết ly hôn với ông K.

Về con chung: Có 04 con chung tên là Lường Thị T, sinh năm 1990; Lường Thị T1, sinh năm 1991; Lường Thị M, sinh năm 1995 và Lường Thị Thu T2, sinh ngày 05/10/2009. Ly hôn bà H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T2, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Bà H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/10/2024 bị đơn ông Lường Văn K1 trình bày:

Ông và bà H đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn vào năm 2017, việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không bị ai ép buộc.

Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông K1 đồng ý vì vợ chồng chung sống với nhau nhưng mỗi người một quan điểm, sống với nhau nhưng bà H không cùng chí hướng chỉ muốn về quê lập nghiệp nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau.

Về con chung: Có 04 con chung tên là Lường Thị T, sinh năm 1990; Lường Thị T1, sinh năm 1991; Lường Thị M, sinh năm 1995 và Lường Thị Thu T2, sinh ngày 05/10/2009. Các cháu T, T1, M đều đã trưởng thành. Còn cháu T2 thì ông cũng đồng ý để bà H chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu T2, tạm thời ông không cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Ông K1 đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật do ông K1 bận đi làm và cũng không muốn hòa giải đoàn tụ với bà H.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H; Về con chung: Giao cháu Lường Thị Thu T2, sinh ngày 05/10/2009 cho bà H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, tạm thời ông K1 không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Long Thị H, bị đơn ông Lường Văn K1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn bà H và bị đơn ông K1.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Long Thị H và ông Lường Văn K1 chung sống với nhau từ năm 1990 nhưng đến năm 2017 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn theo giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 22 tháng 3 năm 2017 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà H khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông K1 với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng không quan tâm đến nhau và cũng không bàn bạc đoàn tụ được. Đồng thời ông K1 cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn và đồng ý ly hôn với bà H. Do đó, xác định bà H và ông K1 đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H, xử cho bà H được ly hôn ông K1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà H, ông K1 có 04 con chung tên là Lường Thị T, sinh năm 1990; Lường Thị T1, sinh năm 1991; Lường Thị M, sinh năm 1995 và Lường Thị Thu T2, sinh ngày 05/10/2009. Các cháu T, T1, M đã trưởng thành. Bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lường Thị Thu T2. Xét thời gian qua bà T2 nuôi con tốt, ông K1 không có ý kiến phản ánh hay yêu cầu gì đối với việc nuôi con chung của bà H tại địa phương. Qua xem xét ý kiến cháu T2 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Đồng thời ông K1 cũng đồng ý giao cháu T2 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Lường Thị Thu T2, sinh ngày 05/10/2009 cho bà Long Thị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

Về tài sản chung: Vợ chồng đều tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Nợ chung: Các đương sự khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Long Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 174, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của bà Long Thị H đối với ông Lường Văn K1.

Xử cho chị bà Long Thị H được ly hôn với ông Lường Văn K1.

Về nuôi con chung: Giao cháu Lường Thị Thu T2, sinh ngày 05/10/2009 cho bà Long Thị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Lường Văn K1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lường Văn K1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84, Điều 110 và Điều 118 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

2. Về án phí: Bà Long Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0016881 ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom (bà H đã nộp đủ).

3. Bà H và ông K1 được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ