- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Quốc V - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đàm Quốc V phạm tội “Cướp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 167/2023/HS-ST Ngày 08-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn;
2. Ông Tô Văn Nhung.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 158/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Đàm Quốc V, sinh năm 1998 tại tỉnh Đắk Lắk; thường trú: Thôn C, xã C M, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: Số 18/30D khu phố S, phường L Tr, thành phố Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đàm Văn Th, sinh năm 1979 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1979; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 2000, bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2023 cho đến nay; có mặt.
- Các bị hại:
1. Anh Nguyễn Hữu Th, sinh năm 2000; thường trú: A2/19, khu phố H, phường T V, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai; có mặt.
2. Chị Võ Thị Lan H, sinh năm 2001; thường trú: Thôn Ph S, xã Đ B, huyện Ch Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; chỗ ở: Số M, đường D2, phường T Nh Ph A, thành phố Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Anh Võ Thành L; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đàm Quốc V là người không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 23 giờ ngày 18/01/2023, V lấy một con dao cán nhựa, lưỡi bằng kim loại, dài 25,3 cm (loại dao cắt thịt) bỏ vào túi quần. V đi bộ từ phòng trọ địa chỉ số M khu phố S, phường L Tr, thành phố Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh đi đến làng đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi bộ đến Quảng trường S T thuộc khu phố T L, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương, V nhìn thấy anh Nguyễn Hữu Th và chị Võ Thị Thu H đang ngồi nói chuyện trên ghế đá, phía trước có dựng xe môtô nhãn hiệu Honda Vario màu xanh đen, biển số 60F3-466.88. Lúc này, V cầm dao trên tay phải rồi đi đến trước mặt anh Th và chị H, V đưa dao về hướng anh Th và nói “đưa xe đây cho tao mượn” rồi V đưa dao hướng về phía chị H nói “đưa chìa khóa xe và giấy tờ đây”, anh Th sợ nên nói với V “chìa khóa xe để ở hộc xe”. V yêu cầu anh Th đi đến mở máy xe môtô. Khi thấy ổ khóa xe bật sáng thì V leo lên xe ngồi, đồng thời cầm dao sang tay trái để đề xe nổ máy nhưng không được. Quan sát thấy V sơ hở không nổ được máy xe nên anh Th đi đến giằng co để lấy dao của V, quá trình giằng co anh Th bị rách da ở ngón trỏ tay phải, V cũng bị thương làm con dao rơi xuống đất. Chị H nhìn thấy vậy nên dùng nón bảo hiểm đánh V đồng thời truy hô. Lúc này, anh Võ Thành L đi ngang phát hiện nên hỗ trợ khống chế bắt giữ được V và báo cho Công an phường Đ H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Quá trình điều tra, V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
- Vật chứng thu giữ: 01 (một) con dao cán nhựa, lưỡi bằng kim loại, dài 25,3cm và 01 (một) xe môtô hiệu Honda Vario, biển số 60F3-466.88, màu xanh đen, số khung 4117KK813312, số máy KF41E1815795.
* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 16/BBĐG-HĐĐGTS ngày 13/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 60F3-466.88, màu xanh đen, số khung 4117KK813312, số máy KF41E1815795 trị giá 34.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và các bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản số: 16/BBĐG-HĐĐGTS ngày 13/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An.
Đối với vết rách da ở ngón trỏ tay phải của anh Nguyễn Hữu Th, anh Th không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An không đề nghị xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 181/CT-VKS-DA ngày ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đàm Quốc V phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Đàm Quốc V từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) con dao cán nhựa, lưỡi bằng kim loại, dài 25,3cm, do bị cáo Đàm Quốc Việt sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy;
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 60F3-466.88, màu xanh đen, số khung 4117KK813312, số máy KF41E1815795 là xe mô tô của anh Nguyễn Hữu Th nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho anh Th.
* Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự, đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo; bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo; các bị hại và người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 23 giờ 55 phút ngày 18/01/2023, tại Quảng trường S T thuộc khu phố T L, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Đàm Quốc V có hành vi sử dụng con dao cán nhựa, lưỡi bằng kim loại, dài 25,3cm đe dọa sử dụng vũ lực để cướp tài sản của anh Nguyễn Hữu Th và chị Võ Thị Thu H, làm anh Th lo sợ buộc phải giao xe môtô hiệu Honda Vario, biển số 60F3-466.88, màu xanh đen, số khung 4117KK813312, số máy KF41E1815795 có trị giá 34.000.000 đồng.
Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo sử dụng hung khí, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức để chiếm đoạt tài sản của bị hại có giá trị 34.000.000 đồng, đã đủ tố cấu thành tội “Cướp tài sản”. Do đó, Cáo trạng số: 181/CT–VKS ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Đàm Quốc V về tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung “Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đe dọa xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, sức khỏe, tính mạng của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo là dân tộc thiểu số. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, chỉ vì để có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã sử dụng hung khí, đe dọa dùng vũ lực để cướp tài sản của các bị hại, hành vi của bị cáo ngoài việc xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của các bị hại được pháp luật bảo vệ, tội phạm của bị cáo thực hiện còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) con dao cán nhựa, lưỡi bằng kim loại, dài 25,3cm, do bị cáo Đàm Quốc V sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 60F3-466.88, màu xanh đen, số khung 4117KK813312, số máy KF41E1815795 là xe mô tô của anh Nguyễn Hữu Th nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho anh Th nên không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại và không không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với vết rách da ở ngón trỏ tay phải của anh Nguyễn Hữu Thành, anh Th không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An không đề nghị xử lý, là đúng theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Đàm Quốc V phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Đàm Quốc V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao cán nhựa, lưỡi bằng kim loại, dài 25,3cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA