- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Tấn L. Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tấn L, Lương Thái V, Đặng Anh Kh, Đỗ Tiến H, Nguyễn Văn V, Phan Văn V, Lương Thị Bích L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 318 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM T NH ÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 167/2023/HS-PT Ngày: 26-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH ÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Hoài
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Đỗ Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 126/2023/TLPT-HS ngày 19/6/2023 đối với bị cáo Phạm Tấn L cùng đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2023/HS-ST ngày 09/5/2023 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: Phạm Tấn (tên gọi khác: Lọt), sinh năm: 1991 tại: Gia Lai; nơi ĐKHKTT: Xóm K, xã E, huyện Sông Hinh, Phú Yên; nơi cư trú: 76 MA, Phường 8, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Tấn Ch và bà Phan Thị V; có vợ Phạm Thị Thùy D (đã ly hôn) và 02 người con, sinh năm 2012 và 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22-07-2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố Đà Lạt. Có mặt.
2. Họ và tên: ương Thái V (tên gọi khác: Tâm), sinh năm: 1985 tại: Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 42 TT, Phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Hẻm 65 HT, Phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Xuân Th và bà Đào Thị B; vợ là: Lê Thị Thuỳ L, sinh năm 1984 và có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 09/6/2017, Lương Thái V bị Công an thành phố Đà Lạt xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi: “Xâm hại sức khỏe người khác”
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22-7-2022, đến ngày 02-12-2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
3. Họ và tên: ương Thị Bích (tên gọi khác: Bé nhỏ), sinh năm: 1989 tại: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Số 111/2 đường HT, Phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Xuân Th và bà Đào Thị B; có chồng là: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1977 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2008.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22-7-2022, đến ngày 18-8-2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
4. Họ và tên: Nguyễn Văn V, sinh năm: 1997 tại: Phú Yên; nơi ĐKHKTT: Lạc Điền, xã ST, huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: số 76 MAD, phường 8, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Thông (đã chết) và bà Tạ Thị Kim Oanh; có vợ: Lâm Thị Nhật Thanh, sinh năm: 1999 và 01 người con sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt giam ngày 22/7/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt.
5. Họ và tên: Đặng Anh Kh, sinh năm: 1988 tại: Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: SH, xã PC 2, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: 51 NAN, phường 6, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn S và bà Nguyễn Thị L; vợ: Trương Thị Nh (đã ly hôn) và 01 người con, sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bắt tạm giam ngày 22/7/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt.
6. Họ và tên: Đỗ Tiến H, sinh năm: 1995 tại: Khánh Hoà; nơi ĐKHKTT: khu phố 8, thị trấn H, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: số 52B V K, Phường 8, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn M và bà Lương Thị H; có vợ Nguyễn Thị Hồng Nh, sinh năm: 2002 và có 01 người con sinh năm: 2022.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22-07-2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố Đà Lạt. Có mặt.
7. Họ và tên: Phan Văn V, sinh năm: 1992 tại: Phú Yên; nơi ĐKHKTT: B, xã E, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: 50A VK, Phường 8, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan X (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ là Lê Thị Kim L và có 01 con sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15-8-2022 đến ngày 18-8-2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
Trong vụ án này còn có các bị cáo khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 18/10/2006, HKTT: 111/2 Huyền Trân Công Chúa, Phường 4, Thành phố Đà Lạt và Phạm Tấn L có mâu thuẫn với nhau từ trước nên vào khoảng 19 giờ ngày 14/7/2022, trong lúc chơi Bida ở đường Phù Đổng Thiên Vương, Phường 8, thành phố Đà Lạt thì Bảo và Lượng tiếp tục có mâu thuẫn, Bảo bị Lượng và một người bạn tên Rùa (không rõ nhân thân lai lịch) là bạn của Lượng dùng tay đánh. Sau khi bị đánh, Bảo kể sự việc cho mẹ ruột là Lương Thị Bích L nghe. Vì Bảo vẫn bực tức do bị Lượng và Rùa đánh nên đến khoảng 7 giờ ngày 15/7/2022, Bảo rủ Phạm Tuấn Phong, sinh ngày 01/5/2007, HKTT: 29/61 Đào Duy Từ, Phường 4, thành phố Đà Lạt, Trần Đặng Nhật Phong, sinh ngày 26/3/2007, HKTT: Dân Quyền, Tam Nông, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: 51/7 Huyền Trân Công Chúa, Phường 4, thành phố Đà Lạt, Võ Thế Kiệt, sinh ngày 21/8/2006, HKTT: 9/1 Hoàng Diệu, phường 5, thành phố Đà Lạt và Khánh (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tìm Lượng để giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, Bảo điều khiển xe mô tô hiệu Lead màu đỏ biển số 49B1 - 776.30 đến nhà Kiệt và nói Kiệt lấy hung khí để đi đánh Lượng thì Kiệt lấy ra 02 cây gậy ba trắc cất trong người rồi chạy tới nhà Nhật Phong nói Nhật Phong lấy 02 con dao dạng mã tấu cất trong cốp xe Lead rồi cả 3 đi xe mô tô hiệu Lead do Bảo điều khiển tới cửa hàng đặc sản Quỳnh My tại đường Mai Anh Đào, phường 8, thành phố Đà Lạt tìm Lượng để đánh trả thù, còn Tuấn Phong và Khánh đi trên một xe mô tô tới. Khi tới nhóm Bảo lấy hung khí ra cầm trên tay thách thức Lượng đánh nhau thì Lượng cầm 02 con dao từ trong quán chạy ra, cả 2 bên cãi nhau, thách thức đánh nhau thì ông Nguyễn Văn Hai, sinh năm 1978 (là bố của Bảo) và Lương Thị Thuỳ Loan tới can ngăn và lấy chiếc xe Lead màu đỏ biển số 49B1 - 776.30 về cửa hàng đặc sản Diễm Liên cũng ở đường Mai Anh Đào, Phường 8, thành phố Đà Lạt. Còn nhóm Bảo bỏ đi chơi game, khi đi thì Bảo điều khiển xe mô tô Vario màu trắng biển số 49B1 - 886.26 của mẹ Bảo là Loan.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi Bảo đi chơi về thì gặp Lượng đi xe một mình nên nhóm Bảo đuổi theo đến trước cửa hàng Quỳnh My thì dừng lại, xuống xe lấy 02 cây gậy ba trắc ra, Bảo cầm 01 cây, Nhật Phong cầm 01 cây, còn Kiệt và Khánh không cầm gì đứng phía sau, Bảo thách thức Lượng thì Lượng chạy vào trong bếp của cửa hàng lấy 02 con dao (loại dao chặt thịt) cầm trên hai tay chạy ra, Bảo cầm gậy ba trắc đánh một cái nhưng Lượng né được thì cây gậy ba trắc bị rớt, Lượng cầm dao ở tay phải chém một nhát trúng vai phải của Nhật Phong nhưng không bị thương tích gì thì nhóm Bảo bỏ chạy tới cổng XQ Xử Quán. Lúc này, Loan mở cốp xe Lead lấy ra 02 con dao mã tấu mà nhóm Bảo bỏ vào trước đó đưa cho Bảo một con, Loan cầm một con đi trên đường la hét chỉ dao về phía Lượng chửi bới. Còn Bảo sau khi có dao rượt đuổi Lượng chạy về trước cửa quán Quỳnh My, Bảo chạy tới chém Lượng một nhát nhưng Lượng né được và trúng đầu xe mô tô của khách đang để trên lề đường. Việt từ trong quán đi ra lấy cây gậy ba trắc và cầm trên tay của Bảo làm rơi. Lúc này, Lê Thị Thùy L1, Nguyễn Văn V, Đặng Anh Kh, Đỗ Tiến H, Lương Thái V và Phan Văn Đ thấy Lượng bị đánh nên Linh chạy tới lấy của Lượng một con dao, còn Thái Vinh, Kha, Hoàng, Văn Vinh và Đại chạy qua bên đường mở cốp xe Mazda màu tím biển số 49A - 124.80 của Thái Vinh bên trong có để 04 cây gậy bóng chày thì Văn Vinh lấy 01 gậy bóng chày, Hoàng lấy 01 gậy bóng chày, Kha lấy 01 gậy bóng chày, Thái Vinh cũng cầm 01 gậy bóng chày, Đại không cầm gì chạy quay về chỗ Lượng đứng thì Nguyễn Văn Hai can ngăn làm Vinh bị rớt cây gậy bóng chày thì Đại nhặt gậy bóng chày Vinh làm rớt lên. Lúc này Thái Vinh mới hô lên “Tụi mày chém hết tụi nó cho tao”, còn Linh thì nói “chém hết tụi nó đi”. Nghe vậy cả nhóm gồm: Lượng, Thái Vinh, Linh, Kha, Hoàng, Văn Vinh, Việt và Đại cầm hung khí rượt đuổi nhóm của Bảo về hướng cửa hàng Diễm Liên thì bị Loan cầm dao ngăn lại và chửi bới thách thức với Lượng và Linh. Sau đó, nhóm Lượng không rượt đuổi đánh được nhóm Bảo nên quay về cửa hàng đặc sản Quỳnh My thì Công an Phường 8, thành phố Đà Lạt đến hiện trường đưa tất cả về trụ sở làm việc
Vật chứng thu giữ: 01 con dao cán nhựa màu trắng, lưỡi kim loại màu đen dài 60 cm; 01 con dao cán gỗ, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 50cm; 01 cây gậy sắt (loại gậy ba khúc) dài 70 cm, màu đen; 01 cây gậy bóng chày, màu đen bằng kim loại, dài 70 cm; 01 cây gậy bóng chày màu đỏ bằng kim loại, dài 70 cm; 01 cây gậy bóng chày màu xám bằng kim loại, dài 70cm; 01 cây gậy bóng chày bằng kim loại, màu đen, dài 70cm; 01 con dao cán gỗ, lưỡi bằng kim loại màu đen, dài 47cm; 01 con dao cán gỗ, lưỡi bằng kim loại màu đen, dài 47cm; 01 căn cước công dân số 068088003413 mang tên Đặng Anh Kh; 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Tấn L; 01 căn cước công dân số 056095002507 mang tên Đỗ Tiến H; 01 căn cước công dân số 054200010467 mang tên Phan Văn Đ; 01 xe moto Honda Lead màu đỏ, BKS 49B1-776.30 đã qua sử dụng
Ngày 27/10/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng có Kết luận giám định số 865 về 05 đoạn clip ghi lại diễn biến vụ Gây rối trật tự công cộng, xảy ra ngày 15/7/2022 tại đường Mai Anh Đào, Phường 8, thành phố Đà Lạt, kết luận: 1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong 05 File Video Clip gửi giám định... Kèm theo kết luận giám định là phụ lục số 865 về việc chuyển hóa dữ liệu âm thanh trong các File Video Clip gửi giám định..
Tại bản Cáo trạng số: 79/Ctr-VKS ngày 10 tháng 3 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo: Phạm Tấn L, Lương Thái V, Lê Thị Thùy L1, Đặng Anh Kh, Đỗ Tiến H, Nguyễn Văn V, Phan Văn Đ, Lương Thị Bích L và Phan Văn V, về tội: “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2023/HS-ST ngày 09/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đã xử;
Tuyên bố Phạm Tấn L, Lương Thái V, Lương Thị Bích L, Lê Thị Thùy L1, Đặng Anh Kh, Đỗ Tiến H, Nguyễn Văn V, Phan Văn Đ và Phan Văn V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
1.1. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Tấn L 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22-7-2022.
1.2. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Thái V 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-7-2022, đến ngày 02-12-2022 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
1.3. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Thị Bích L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-7-2022, đến ngày 18-8-2022 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
1.4. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Thùy L1 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án (Ngày 09-5-2023)
1.5. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22-7-2022.
1.6. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22-7-2022.
1.7. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Anh Kh 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22-7-2022.
1.8. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Tiến H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22-7-2022.
1.9. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn V 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 15-8-2022 đến ngày 18-8-2022 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 15/5/2023, các bị cáo Đặng Anh Kh, Phạm Tấn L, Nguyễn Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 16/5/2023, các bị cáo Lương Thái V, Lương Thị Bích L, Phan Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 19/5/2023, bị cáo Đỗ Tiến H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử; đồng thời các bị cáo Lương Thái V, Lương Thị Bích L, Phạm Tấn L giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo Phan Văn V, Nguyễn Văn V, Đặng Anh Kh và Đỗ Tiến H thay đổi kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo thống nhất với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 14-7-2022, tại khu vực trước cửa hàng đặc sản Quỳnh My đường Mai Anh Đào, Phường 8, thành phố Đà Lạt, các đối tượng gồm nhóm Phạm Tấn L, Lương Thái V, Lê Thị Thùy L1, Đặng Anh Kh, Đỗ Tiến H, Nguyễn Văn V, Phan Văn Đ, Phan Văn V cùng nhóm các đối tượng Lương Thị Bích L, Nguyễn Lương Gia Bảo, Võ Thế Kiệt, Phạm Tuấn Phong, Trần Đặng Nhật Phong đã có hành vi sử dụng dao, gậy sắt, gậy bóng chày rượt đuổi nhau trên đường phố, đánh chém lẫn nhau gây mất trật tự, an toàn xã hội.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo Phạm Tấn L, Lương Thái V, Lê Thị Thùy L1, Đặng Anh Kh, Đỗ Tiến H, Nguyễn Văn V, Phan Văn Đ, Phan Văn V, Lương Thị Bích L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Lương Gia Bảo, sinh ngày 18/10/2006; Võ Thế Kiệt, sinh ngày 21/8/2006; Phạm Tuấn Phong, sinh ngày 01/5/2007; Trần Đặng Nhật Phong, sinh ngày 26/3/2007 có tham gia gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên, Bảo, Kiệt, Tuấn Phong và Nhật Phong chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên cơ quan điều tra công an thành phố Đà Lạt không truy cứu trách nhiệm và xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Xét kháng cáo của các bị cáo Phạm Tấn L, Lương Thái V, Đặng Anh Kh, Đỗ Tiến H, Nguyễn Văn V, Phan Văn V, Lương Thị Bích L thì thấy rằng; bản án sơ thẩm đã xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét hành vi phạm tội, phân hóa vai trò và nhân thân các bị cáo, để xử phạt các bị cáo với mức án trên là thỏa đáng. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, bị cáo Loan cho rằng không xúi giục người chưa thành niên phạm tội nhưng quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm bị cáo thừa nhận đã mở cốp xe lấy 02 con dao, đưa cho Bảo 01 con, Loan cầm 01 con và hô hào “Chém chết nó” đồng thời chỉ dao về phía Lượng chửi bới, nên các đối tượng chưa đủ 18 tuổi mới tham gia đuổi đánh, gây rối trật tự công cộng. Bị cáo Lương Thái V cho rằng bản thân không khải là người chủ mưu, nhưng bị cáo thừa nhận bản thân đã hô hào “Tụi mày chém chết tụi nó cho tao” nên các đối tượng Lượng, Linh, Kha, Hoàng, Văn Vinh, Việt và Đại mới cầm hung khí rượt đổi nhóm của Bảo. Vì vậy, kháng cáo của bị cáo Loan và bị cáo Lương Thái V là không có căn cứ để chấp nhận. Các bị cáo Phan Văn V, Nguyễn Văn V Đặng Anh Kh và Đỗ Tiến H xin hưởng án treo nhưng chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự; mức án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tấn L, Lương Thái V, Đặng Anh Kh, Đỗ Tiến H, Nguyễn Văn V, Phan Văn V, Lương Thị Bích L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố Phạm Tấn L, Lương Thái V, Lương Thị Bích L, Đặng Anh Kh, Đỗ Tiến H, Nguyễn Văn V và Phan Văn V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Tấn L, Lương Thái V, Lương Thị Bích L, Đặng Anh Kh, Đỗ Tiến H, Nguyễn Văn V và Phan Văn V. Riêng bị cáo Lương Thị Bích L bị áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Tấn L 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22-7-2022.
Xử phạt bị cáo Lương Thái V 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-7-2022, đến ngày 02-12-2022 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Xử phạt bị cáo Lương Thị Bích L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-7-2022, đến ngày 18-8-2022 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22-7-2022.
Xử phạt bị cáo Đặng Anh Kh 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22-7-2022.
Xử phạt bị cáo Đỗ Tiến H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22-7-2022.
Xử phạt bị cáo Phan Văn V 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15-8-2022 đến ngày 18-8-2022 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Phạm Tấn L, Lương Thái V, Đặng Anh Kh, Đỗ Tiến H, Nguyễn Văn V, Phan Văn V, Lương Thị Bích L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND TP. Đà Lạt (10); - VKSND TP. Đà Lạt (01); - Cơ quan CSĐT CA TP. Đà Lạt (01); - Cơ quan THAHS TP. Đà Lạt (01); - Phòng PC 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (07); Nhà tạm giữ (04); - Hồ sơ THAHS (07); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Duy Hoài |