vanban.org

Bản án 167/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận sự thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn giữa anh Trần Duy K và chị Nguyễn Thị M T.

Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Trần Hà P, sinh ngày 27/12/2018 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng đến khi cháu Trần Hà P đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng: kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "-Nguyên đơn: Anh Trần Duy K; -Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M T; Sinh năm: 1999;"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn giữa anh Trần Duy K và chị Nguyễn Thị M T.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167 /2023/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 7 - 2023
“V/v xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Xuân Trúc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Liêm

Ông Nguyễn Minh Mẫn

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.

Trong các ngày 19 và 26 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 142/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc “xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Anh Trần Duy K; Sinh năm: 1996 Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh B. (Có mặt)

-Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M T; Sinh năm: 1999; Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã H, thành phố C, tỉnh C. (Có mặt).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C S.

Địa chỉ: Số A, đừơng L, phường H, quận H, thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Khả T, sinh năm 1980; chức vụ: Phó giám đốc chi nhánh Ngân hàng C S.

Địa chỉ: Số A, đường L, khóm A, phường B, thành phố C, tỉnh C. Theo giấy ủy quyền số 1665/QĐ-NHCS ngày 24/12/2020) (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Về hôn nhân: Anh Trần Duy K và chị Nguyễn Thị M T tự nguyện chung sống vào năm 2018, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị T có mối quan hệ với nguời đàn ông khác. Đối với chị T thì cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do anh K có nhắn tin qua lại với người phụ nữ khác có nội dung tình cảm với nhau. Tuy nhiên cả hai đều cho rằng mâu thuẫn trầm trọng nên thống nhất thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Anh K và chị T xác định có 01 người con chung tên Trần Hà P, sinh ngày 27/12/2018 hiện đang sống cùng chị T. Khi ly hôn cả hai thỏa thuận giao con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh K cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung: Anh K, chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh K, chị T xác định quá trình sống chung cả hai có vay Ngân hàng C Schi nhánh tỉnh Cà Mau số tiền 20.000.000 đồng, vay vào tháng 3/2022 chưa thanh toán xong. Tuy nhiên đến khi Tòa án ngừng phiên Tòa để làm việc lại với Ngân hàng thì đến ngày 19/7/2023 anh K đã thanh toán toàn bộ vốn lãi cho Ngân hàng nên xác định hiện cả hai không có nợ ai và cũng không ai nợ lại anh chị.

Đối với yêu cầu độc lập và các các chứng cứ, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Khả T trình bày: Anh Trần Duy K và chị Nguyễn Thị M T vào ngày 18/3/2022 có vay vốn tại Ngân hàng C Ssố tiền 20.000.000đ theo thỏa thuận thời hạn vay 60 tháng, thanh toán lãi hàng tháng, trả vốn vay 06 tháng/kỳ. Quá trình vay anh K chị T có trả lãi đầy đủ nhưng không thanh toán vốn vay theo thỏa thuận. Do đó Ngân hàng khởi kiện độc lập đề nghị anh K, chị T phải thanh toán toàn bộ vốn và lãi cho Ngân hàng khi ly hôn. Tuy nhiên đến ngày 26/7/2023 đại diện Ngân hàng có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện với lý do chị Nguyễn Thị M T và anh Trần Duy K đã tất toán khoản nợ vay tại Ngân hàng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy K được xác định là tranh chấp về việc xin ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Trong quá trình giải quyết vụ án Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện Ngân hàng C SViệt Nam có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện Ngân hàng C SViệt Nam theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét đơn khởi kiện của anh Trần Duy K thấy rằng, anh K và chị T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 29/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố C, tỉnh C nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống anh K, chị T đểu xác định có phát sinh nhiều mâu thuẫn, hiện tại anh chị cũng đã ly thân nhau, mỗi người sống một nơi, không còn tình cảm nên cả hai thống nhất thuận tình ly hôn. Xét sự thỏa thuận thuận tình ly hôn của anh K, chị T là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thuận tình ly hôn của anh Trần Duy K và chị Nguyễn Thị M T.

[3] Về con chung: Anh K, chị T xác định có 01 người con chung tên Trần Hà P, sinh ngày 27/12/2018 hiện đang sống cùng chị T. Khi ly hôn cả hai thỏa thuận giao con chị chị T nuôi, anh K cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận giao Trần Hà P, sinh ngày 27/12/2018 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mổi tháng 1.000.000đ. Về phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng: kể từ ngày quyết định có hiệu lực cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định. Anh K được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Anh K, chị T xác định không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về nợ chung: Anh K, chị T xác định quá trình chung sống vợ chồng có nợ Ngân hàng C Ssố tiền 20.000.000 đồng. Ngày 19/5/2023 Ngân hàng có đơn khởi kiện yêu cầu độc lập buộc anh K, chị T phải thanh toán toàn vốn và lãi trong vụ án này. Tuy nhiên hiện Ngân hàng có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện với lý do cho rằng đến ngày 19/7/2023 anh K, chị T đã tất toán khoản nợ vay xong nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy yêu cầu xin rút yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là hoàn toàn phù hơp đúng qui định pháp luật nên chấp nhận đình chỉ yêu cầu độc lập của Ngân hảng đối với khởi kiện anh K, chị T.

[6] Anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình và án phí cấp dưỡng, chị T và Ngân hàng C Skhông phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 217, 227, 228, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn giữa anh Trần Duy K và chị Nguyễn Thị M T.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Trần Hà P, sinh ngày 27/12/2018 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng đến khi cháu Trần Hà P đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng: kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định. Anh K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày chị T có yêu cầu thi hành án, anh K chưa thi hành xong khoản cấp dưỡng, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

3. Về tài sản chung: Không xem xét.

4. Về nợ chung: Đình chỉ toàn bộ yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng C SViệt Nam đối với anh Trần Duy K và chị Nguyễn Thị M T về việc yêu cầu thanh toán số tiền vay 20.000.000đ và lãi phát sinh.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: 300.000đ và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000đ, anh K phải chịu. Anh K đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai số 0003012 vào ngày 13/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, được đối trừ, anh K tiếp tục nộp số tiền còn lại. Chị T và Ngân hàng C SViệt Nam không phải chịu.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ