vanban.org

Bản án 167/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

Tiếp tục tạm giam Nguyễn Văn T để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun màu đen, 01 (một) quần jean ống lửng màu xanh, 01 (một) áo khoác màu đen. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 167/2022/HS-ST
Ngày: 14/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa: Ông Tôn Trung Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nghiêm Thị Xuân Huê

2. Ông Nguyễn Đình Phúc

- Thư ký Pên tòa: Ông Trần Minh Anh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia Pên tòa: Ông Nguyễn Nhật Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 168/2022/TLST-HS ngày 23/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1061/2022/QĐXXST-HS ngày 31/11/2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; sinh năm: 1979; tại: tỉnh Bạc Liêu; hộ khẩu thường trú: Không có; nơi ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H (đã chết); và bà: Nguyễn Thị Kim L; vợ Nguyễn Thị Kim M, có 03 con(lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2011); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 11/11/1998, bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Bản án số 334/HSST, đã xóa án tích); Ngày 24/4/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 58/2015/HSST, đã xóa án tích); bị bắt, tạm giam ngày: 18/8/2022. (Có mặt)

- Bị hại: Anh Nguyễn Trường P, sinh năm 1994, địa chỉ: 42/5/1 BĐT, Phường T, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1981. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 17/8/2022 tại khu công viên 23/9, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn T đang đi bộ thì thấy anh Nguyễn Trường P bị say, nằm ngủ trên bãi cỏ nên T đi lại gần và phát hiện túi quần bên trái của anh P có vết rách, bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone X nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. T dùng tay xé túi quần của anh P rồi lấy điện thoại di động bỏ vào túi quần phía trước bên trái T đang mặc sau đó lấy 7.320.000 đồng để trong túi quần bên phải của anh P bỏ vào túi áo khoác phía trước T đang mặc. Lúc này, các anh Nguyễn Quang Tuyến (là Công an Quận 1), Bùi Đức Dương, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Minh Hoàng (là Công an Quận 4), Nguyễn Tuấn Phong (là Công an phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1) chứng kiến sự việc đã bắt giữ T cùng vật chứng, đưa về Công an phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang sau đó chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 giải quyết theo thẩm quyền. (BL: 58-60)

Theo Kết luận định giá tài sản số 228/KL-HĐĐGTS ngày 20/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X 256 GB trị giá 5.695.000 đồng. (BL: 46-49). Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận định giá tài sản, xác nhận của T đối với các vật chứng; lời khai của bị hại, những người làm chứng và các tài chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập. (BL: 50-125)

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số Imei: 359406081426294; 7.320.000 (bảy triệu ba trăm hai mươi ngàn) đồng, đã trả lại cho bị hại Nguyễn Trường P. (BL: 40)

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 354275380741553.

- 01 (một) áo thun màu đen.

- 01 (một) quần jean ống lửng màu xanh.

- 01 (một) áo khoác màu đen.

Các vật chứng còn lại hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đang tạm giữ. (BL: 43)

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Trường P không có yêu cầu bồi thường về dân sự. (BL: 104)

[2] Bản Cáo trạng số 170/CT-VKSQ1 ngày 21/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.

[3] Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, cùng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, phần dân sự đã giải quyết xong, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 354275380741553 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, 01 áo thun màu đen, 01 quần jean ống lửng màu xanh, 01 áo khoác màu đen không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Nguyễn Văn T không tranh luận, bào chữa. Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone X trị giá 5.695.000 đồng và 7.320.000 đồng của anh Nguyễn Trường P, tổng trị giá tài sản là 13.015.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội có tính cơ hội, gây thiệt hại không lớn, quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Bị hại anh Nguyễn Trường P đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 354275380741553 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- 01 (một) áo thun màu đen, 01 (một) quần jean ống lửng màu xanh, 01 (một) áo khoác màu đen không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2022.

Tiếp tục tạm giam Nguyễn Văn T để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun màu đen, 01 (một) quần jean ống lửng màu xanh, 01 (một) áo khoác màu đen.

+ Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 354275380741553

(Phiếu nhập kho vật chứng số 203/22-PNK-THAHS ngày 06/9/2022 tại Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Nguyễn Văn T chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Riêng bị hại vắng mặt tại Pên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ