vanban.org

Bản án 167/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

X phạt bị cáo Cao Văn H 12 (mười hai) năm tù về tội “ Giết người”; 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Tổng hợp h nh phạt chung của cả hai tội danh là: 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng) tù.

Thời hạn tù t nh từ ngày 29/4/2019. Buộc bị cáo Cao Văn H bồi thường cho bà Huỳnh Thị Thanh T1 số tiền: 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn H - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? X phạt bị cáo Cao Văn H 12 (mười hai) năm tù về tội “ Giết người”; 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Tổng hợp h nh phạt chung của cả hai tội danh là: 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng) tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật h nh s; Điều 106 Bộ luật Tố t ng h nh s; Điều 123 Bộ luật h nh s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2021/HS-ST
Ngày: 11-5-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang

Thẩm phán: Ông Vũ Văn Lệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Giáo

Ông Phạm Đức Hoan

Bà Võ Thị Nam

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiêm – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2021, tại tr s Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh m phiên tòa xét x sơ th m c ng khai v án h nh s sơ th m th lý số: 106/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa v án ra xét x số: 1845/2021/HSST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Cao Văn H (tên gọi khác: H1); Sinh ngày 06 tháng 5 năm 1981 tại Thành phố Hồ Ch Minh; Thường trú: Kh ng có nơi đăng ký hộ kh u thường trú; Tạm trú: Nhà kh ng số, tổ A, ấp F, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Ch Minh; Nghề nghiệp: Ph hồ; Tr nh độ học vấn: 0/12; Giới t nh: Nam; Dân tộc: Kinh; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ng Cao Văn N và bà Nguyễn Thị D (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền s : Kh ng.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 29/4/2019 - Có mặt.

Đại diện gia đình bị cáo Cao Văn H:

Ông Cao Văn N; Sinh năm 1958

Trú tại: Tổ A, Ấp F, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Ch Minh - Vắng mặt.

Người bào chữa:

Ông Lưu Tấn Anh T là luật sư của Công ty L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa chỉ định cho bị cáo Cao Văn H - Có mặt.

Bị hại

Bà Huỳnh Thị Thanh T1; Sinh năm 1981.

Thường trú: F36/75A ấp F, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Ch Minh - Có mặt.

Đại diện hợp pháp của bị hại Huỳnh Thị Thanh T1:

Ông Huỳnh C ng Đ; Sinh năm 1950

Trú tại: F, ấp F, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Ch Minh - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 07/5/2018, sau khi uống rượu tại khu v c Bãi cát xã L, huyện C, tỉnh Long An với một số người làm nghề đ y cát thuê, Cao Văn H điều khiển xe m t biển số 95H1-2864 đi về nhà tại ấp F, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Ch Minh. Trên đường về, khi đi ngang qua nhà bà Huỳnh Thị Thanh T1 (sinh năm 1981, một m nh, H đã biết trước đó), tại số: F36/75A ấp F, xã H, huyện B, H nảy sinh ý định quan hệ t nh d c với bà T1 nên tắt máy xe dẫn bộ đến bên h ng nhà, thấy nhà bà T1 đóng c a, đèn còn sáng, bà T1 còn thức, nên H ngồi đợi bên ngoài. Khoảng 30 phút sau, khi thấy đèn trong nhà bà T1 đã tắt, H nhặt 01 khúc gỗ vu ng dài khoảng 01 mét gần đó cầm trên tay phải với m c đ ch nếu bà T1 chống c th đánh. Hạ vạch vách lá chui vào trong nhà thấy bà T1 đang nằm ngủ trên giường nên đi đến dùng tay phải vén mùng lên và chui vào, H dùng tay trái nắm tay Bà T1, bà T1 giật m nh tỉnh dậy và kêu “Bớ hàng xóm ơi”. Hạ leo lên giường th bị bà T1 tiếp t c chống c , nên H liền cầm cây gỗ đánh 02-03 cái vào đầu bà T1 rồi tiếp t c x ng vào m bà T1 nhưng bà T1 chống c , đạp và giẫy d a làm sập giường. Bà T1 đạp vào b ng H, H tiếp t c dùng tay đánh vào mặt bà T1 03-04 cái, nên bà T1 m mặt khóc. Lúc này H quay sang năn nỉ bà T1 bỏ qua nhưng bà T1 kh ng đồng ý. Sau đó, bà T1 định bỏ chạy ra ngoài th H kéo bà T1 lại. Bà T1 m đèn trong nhà nh n nhận thấy mặt Cao Văn H và lấy 01 con dao (bằng kim loại màu đen, bị gãy mũi, dài khoảng 19,5cm) trên bàn để t vệ. H nói với bà T1 “cho tao với mầy một cái” (có nghĩa là cho quan hệ t nh d c), bà T1 trả lời “có chết tao cũng kh ng cho mày”. Do vậy, H đã năn nỉ bà T1 đừng nói lớn tiếng nữa, H sẽ bồi thường tiền cho bà T1 nhưng bà T1 kh ng đồng ý và tiếp t c la lớn tiếng. Sợ bị phát hiện, H giật lấy con dao của bà T1 đang cầm trên tay, rồi chạy lại tẳt đèn và đâm nhiều nhát vào vùng cổ, bả vai, tay bà T1, làm bà T1 ngã ng a xuống nền nhà.

Khoảng 15 phút sau, bà T1 tiếp t c la lên, do sợ hàng xóm phát hiện nên H tiếp t c đâm 02 nhát vào người bà T1, bà T1 nằm bất động, n n th , giả chết. Hạ m đèn kiểm tra tư ng bà T1 đã chết, nên H bỏ dao lại, lấy quần áo đắp lên người bà T1, rồi r a tay, tắt đèn và điều khiển xe về nhà. Sau khi H bỏ đi, bà T1 chạy sang nhà hàng xóm là bà Nguyễn Thị D kêu cứu, nhờ ng Huỳnh C ng K trình báo Công an xã H, huyện B. Bà T1 được đưa đi đến Bệnh viện C cấp cứu đến ngày 20/5/2018 th xuất viện.

Tại bản kết quả giám định pháp y về thương t ch sổ 446/TgT.18 ngày 18/6/2018 của Trung tâm Pháp y S Y tế Thành phố H, kết luận:

Đa chấn thương phần mềm đã được điều trị. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương t ch gây nên là 13% (mười ba phần trăm).

Ngày 29/4/2019, Cao Văn H bị bắt theo quyết định truy nã. Tại Cơ quan điều tra, Cao Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số: 244/CT-VKS-P2 ngày 02 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh đã truy tố bị cáo Cao Văn H về các tội: “ Giết người ” và “Hiếp dâm” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123, khoản 1 Điều 141của Bộ luật H nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Cao Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.

Bị hại Huỳnh Thị Thanh T1 đề nghị Tòa án xét x nghiêm bị cáo về 02 tội “Giết người”, “Hiếp dâm” và đề nghị buộc bị cáo bồi thường chi ph điều trị thương t ch và tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 150.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Ch Minh trong phần tranh luận sau khi phân t ch, đánh giá t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra, các t nh tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm h nh s vẫn giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Cao Văn H về các tội: “Giết người” và “Hiếp dâm” như Bản cáo trạng đã nêu. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét x áp d ng điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 141; điểm h, s, q khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật h nh s 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017,

X phạt bị cáo Cao Văn H từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Giết người”; 02 năm đến 03 năm tù về tội “Hiếp dâm”. Tổng hợp h nh phạt, buộc bị cáo chấp hành h nh phạt chung cho cả 02 tội danh từ 11 năm đến 13 năm tù.

Về dân s và x lý vật chứng của v án đề nghị Hội đồng xét x giải quyết theo quy định của pháp luật.

Luật sư Lưu Tấn Anh T bào chữa cho bị cáo Cao Văn H tr nh bày: Đối với hành vi gây thương t ch cho bị hại, con dao gây án là do bị cáo tước đoạt của bị hại chứ kh ng phải bị cáo chu n bị từ trước, việc gây thương t ch cho bị hại là do bị cáo lo sợ việc bị hại la hét sẽ khiến hành vi “Hiếp dâm” bị phát giác. Bản thân bị cáo kh ng biết chữ và bị khiếm khuyết về mặt tr tuệ b m sinh nên nhận phức pháp luật có phần hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét x xem xét x phạt bị cáo về tội “Cố ý gây thương t ch” và x phạt bị cáo mức án dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Bị cáo đồng ý với quan điểm bào chữa của Luật sư, kh ng bào chữa bổ sung và tranh luận g thêm.

Bị hại đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp d ng đối với bị cáo H.

Đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị xem xét việc khi v án xảy ra, bị cáo vẫn được tại ngoại dẫn đến việc bị cáo trốn truy nã đồng thời đề nghị xem xét phần lãi suất đối với phần dân s chậm thi hành án.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận với ý kiến của Luật sư: Bị cáo có hành vi dùng dao kim loại, đâm bị hại liên tiếp đến khi bị hại giả chết, kh ng la hét nữa, bị cáo kiểm tra phát hiện bị hại kh ng th th mới bỏ đi khỏi hiện trường là thể hiện ý ch tước đoạt đến cùng t nh mạng của bị hại. Việc bị hại kh ng chết là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Do đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố của bản cáo trạng và mức h nh phạt đã đề nghị.

Đối với ý kiến của đại diện hợp pháp của bị hại: Khi v án được Công an huyện B tiếp nhận, Cơ quan điều tra Công an huyện B phải trưng cầu giám định thương t ch của bị hại T1, khi có Kết luận giám định thương t ch của bị hại, Cơ quan điều tra đã ra quyết định kh i tố v án, kh i tố bị can nhưng lúc này bị cáo đã bỏ trốn nên đã th c hiện thủ t c truy nã bị cáo. Sau đó, bị cáo bị kh i tố về tội “Giết người” nên Cơ quan Điều tra, C ng an huyện B đã chuyển hồ sơ lên Cơ quan điều tra, C ng an Thành phố H điều tra theo th m quyền là đúng pháp luật.

Kết thúc phần tranh luận, các bên đều bảo lưu quan điểm như đã tr nh bày.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Cao Văn H xin xem xét giảm nhẹ h nh phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã th c hiện đúng về th m quyền, tr nh t , thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng h nh s .

Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Tại các bản t khai, biên bản lấy lời khai, hỏi cung bị cáo, biên bản ghi lời khai của bị hại đều tr nh bày lời khai hoàn toàn t nguyện, kh ng bị ép cung, nh c h nh. Trong v án này, bị cáo Cao Văn H là người kh ng biết chữ, đồng thời tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 123 của Bộ luật H nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017 có khung h nh phạt cao nhất là t h nh. Quá tr nh tiến hành các hoạt động tố t ng của v án, cơ quan tiến hành tố t ng đã đảm bảo quy định về chỉ định người bào chữa và s tham d của người chứng kiến theo đúng quy định của Bộ luật Tố t ng h nh s .

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại Huỳnh Thị Thanh T1 có ý kiến về việc, thời điểm v án được phát hiện, C ng an huyện B kh ng th c hiện thủ t c tạm giam bị cáo để điều tra mà cho bị cáo được tại ngoại dẫn đến việc bị cáo bỏ trốn, gây khó khăn trong quá tr nh điều tra, làm rõ v án. Hội đồng xét x xét thấy, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra, C ng an huyện B tiếp nhận, giải quyết đơn báo tố giác tội phạm, kh i tố v án, kh i tố bị can, truy nã bị can, chuyển hồ sơ v án đến C ng an Thành phố H để kh i tố, điều tra theo th m quyền là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố t ng h nh s . Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã th c hiện đều hợp pháp.

Về nội dung, Hội đồng xét x đánh giá như sau:

Qua th m tra xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Cao Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa được xác định phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của bị hại; Bản Kết luận giám định pháp y về thương t ch số: 446/Tg.18 ngày 18/6/2018 của Trung tâm giám định pháp y thuộc S y tế Thành phố H, cùng các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của v án. Hội đồng xét x có đủ cơ s kết luận:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/5/2018, tại nhà số F ấp F, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Ch Minh, Cao Văn H có hành vi dùng vũ l c ngay lập tức để giao cấu với bị hại Huỳnh Thị Thanh T1 th bị hại T1 phản kháng, tri h . Bị cáo tiếp t c dùng khúc gỗ k ch thước 02cm x 4cm x 92cm đánh vào đầu bị hại T1 03-04 cái, khi bị hại T1 bỏ chạy ra ngoài th bị cáo kéo tay bị hại lại và đóng c a. Lúc này, bị hại T1 bật đèn và nhận dạng được Cao Văn H, bị hại lấy 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài khoảng 19,5cm, gãy mũi chỉ về ph a Hạ để phòng vệ th bị H tước đoạt con dao, đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng cổ, bả vai, tay và đè bị hại xuống nền nhà. Sau đó, bị cáo ngồi lại hiện trường 15 phút, khi thấy bị hại T1 la lên th bị cáo tiếp t c dùng dao đâm 02 nhát vào người bị hại, khi kiểm tra và nghĩ rằng bị hại T1 đã chết v chảy nhiều máu th H lấy quần áo đắp lên người bị hại rồi bỏ lại khúc gỗ, con dao và điều khiển xe máy về nhà. Sau khi H rời đi, bị hại chạy sang nhà bà Nguyễn Thị D kêu cứu và nhờ ng Huỳnh C ng K tr nh báo với Công an xã H, huyện B. Đến ngày 23/8/2019, bị hại T1 có tờ tường tr nh và yêu cầu x lý Cao Văn H về hai tội “Giết người” và tội “Hiếp dâm”.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương t ch số: 446/Tg.18 ngày 18/6/2018 của Trung tâm giám định pháp y thuộc S y tế Thành phố H kết luận thương t ch đối với bị hại Huỳnh Thị Thanh T1: “Một vết kích thước 1x0,1cm tại môi dưới trái, có tỷ lệ 02%(hai phần trăm). Thương tích do vật tày, vật tày có cạnh, vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc gây ra. Dùng tay và cả con dao, cái cây như cung cấp đều có thể gây ra được thương tích này; Hai vết kích thước 1,3x0,1cm và 1x0,1cm tại vùng cổ trái, một vết kích thước 2,4x0,15cm sau vai trái, hai vết kích thước 2,3x0,2cm và 1,1x 0,1cm tại mặt sau cánh tay trái, một vết kích thước 3,1x0,1cm tại kẽ ngón I, II bàn tay trái. Có tỷ lệ 2% (hai phần trăm) mỗi vết. Các thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc gây ra. Chỉ con dao như cung cấp gây ra được các thương tích này. Cộng lùi các tỉ lệ trên sẽ ra lẻ lệ 13,18%, làm tròn số sẽ là 13 (mười ba phần trăm).

Mặc dù, tại văn bản số 446-GT/TgT.18 ngày 14/6/2019 của Trung tâm pháp y S y tế Thành phố H xác định “các thương tích của Huỳnh Thị Thanh T1, sinh năm 1981 theo Bản kết luận giám định số 446/TgT.18: không nguy hiểm đến tính mạng đương sự”, tuy nhiên, căn cứ diễn biến hành vi phạm tội mà Cao Văn H đã th c hiện, thể hiện ý ch của bị cáo muốn tước đoạt đến cùng t nh mạng của bị hại thuộc trường hợp lỗi cố ý tr c tiếp nên hậu quả chết người kh ng phải là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội danh quy định tại Điều 123 của Bộ luật H nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Cao Văn H th c hiện đã phạm vào các tội: “Giết người”; “Hiếp dâm”, tội phạm và h nh phạt được quy định tại Điều 123 và Điều 141 của Bộ luật h nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017 như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh đã truy tố là có căn cứ. Lập luận trên đây cũng là căn cứ bác bỏ quan điểm bào chữa của luật sư cho rằng bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương t ch” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật H nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo Cao Văn H là rất nguy hiểm cho xã hội, đã tr c tiếp xâm phạm đến t nh mạng, sức khỏe, danh d và nhân ph m của người khác được pháp luật bảo vệ, kh ng những gây đau thương mất mát về thể chất và tinh thần của bị hại, mà còn làm mất trật t trị an xã hội tại địa phương và gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trên 18 tuổi, kh ng thuộc trường hợp kh ng có năng l c trách nhiệm h nh s nhưng đã dùng vũ l c ngay lập tức để giao cấu với bị hại Huỳnh Thị Thanh T1. Khi bị hại T1 phát giác và dùng dao phản kháng th bị cáo năn nỉ bị hại đừng nói lớn tiếng và sẽ bồi thường cho bị hại nhưng bị hại kh ng chấp nhận, vẫn tiếp t c la lớn. Do sợ bị phát hiện hành vi “Hiếp dâm” nên bị cáo tước đoạt dao, tắt điện và đâm nhiều nhát vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại nhằm tước đoạt trái pháp luật t nh mạng của bị hại là thể hiện m c đ ch giết người nhằm “che dấu tội phạm khác”, đây là t nh tiết định khung tăng nặng trách nhiệm h nh s quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 của Bộ luật H nh s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét x căn cứ Điều 298 của Bộ luật Tố t ng h nh s quy định về giới hạn xét x để x phạt bị cáo về tội “Giết người” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 Bộ luật H nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 141 của Bộ luật H nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, quá tr nh lượng h nh Hội đồng xét x cũng xem xét, bị cáo th c hiện hành vi “Hiếp dâm” giai đoạn phạm tội chưa đạt; hậu quả chết người của hành vi “Giết người” chưa xảy ra trên th c tế, để cân nhắc mức h nh phạt áp d ng đối với bị cáo như lời đề nghị mà vị luật sư bào chữa cho bị cáo đã tr nh bày.

Về t nh tiết tăng nặng: Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 2053/KLGĐ ngày 26/11/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu v c Thành phố H kết luận: Trước, trong và sau khi bị hại ngày 07/5/2018 cho đến hiện tại bị hại T1 hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, bị cáo phải chịu t nh t nh tăng nặng trách nhiệm h nh s quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 của Bộ luật H nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.

Về t nh tiết giảm nhẹ: Quá tr nh điều tra, truy tố, xét x bị cáo có thái độ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; tại bản kết luận giám định pháp y về tâm thần theo trưng cầu số 2247/KLGĐ ngày 09/12/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu v c Thành phố H kết luận trước, trong và sau khi gây án ngày 07/5/2020 cho đến hiện tại bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị cáo có hoàn cảnh gia đ nh đặc biệt khó khăn, bản thân kh ng biết chữ nên được áp d ng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh s như đã nêu, Hội đồng xét x xét thấy cần có mức h nh phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo d c, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. [7] Về vấn đề dân s : Bị hại Huỳnh Thị Thanh T1 yêu cầu bị cáo bồi thường tiền chi ph điều trị thương t ch và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 150.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường. Xét, đây là thỏa thuận kh ng trái pháp luật của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại nên Hội đồng xét x ghi nhận, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại như bị hại đã yêu cầu.

Về x lý vật chứng:

Đói với 01 thanh gỗ k ch thước 02cm x 04cm x 92cm, được niêm phong có chữ ký ghi tên Võ Cao M và dấu vân tay ghi tên Cao Văn H; 01 con dao bằng kim loại màu đen dài khoảng 19,5cm, bị gãy mũi, được niêm phong trong 01 gói có chữ ký ghi tên Huỳnh C ng T2; 01 quần short nam, vải jean, màu xanh được niêm phong trong 01 gói có chữ ký Võ Cao M và dấu vân tay ghi tên Cao Văn H; 01 áo sơ mi dài tay, sọc nhuyễn trắng xanh, 01 áo sơ mi dài tay, màu vàng và 01 cái quần vải màu xanh rêu, 01 cái áo thun màu trắng trước ng c có in h nh màu đen trong gói niêm phong ghi tên Huỳnh C ng T2 là c ng c phạm tội và vật kh ng còn giá trị s d ng xét cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 xe m t dáng Dream biển số 95H1-2864, có số máy 10023725, số khung 1011425. Qua xác minh do ng Trần Văn H2 là chủ s hữu, hiện ng H2 đã rời khỏi địa phương, đi đâu kh ng rõ nên kh ng thể tiến hành ghi lời khai. Xét xe trên hiện chưa xác định được chủ s hữu nên cần th ng báo tìm chủ s hữu hợp pháp trong thời gian nhất định, nếu quá thời hạn trên vẫn kh ng có người đến nhận th tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph h nh s sơ th m và án ph dân s sơ th m theo quy định của Bộ luật Tố t ng h nh s và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án ph và lệ ph tòa án;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 141; điểm k khoản 1 Điều 52; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 15 và Điều 57; Điều 55 của Bộ luật h nh s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017,

X phạt bị cáo Cao Văn H 12 (mười hai) năm tù về tội “ Giết người”; 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Tổng hợp h nh phạt chung của cả hai tội danh là: 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng) tù.

Thời hạn tù t nh từ ngày 29/4/2019.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật h nh s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 586; Điều 590 và Điều 592 Bộ luật dân s năm 2015.

Buộc bị cáo Cao Văn H bồi thường cho bà Huỳnh Thị Thanh T1 số tiền: 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật H nh s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố t ng h nh s ,

Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh gỗ k ch thước 02cm x 04cm x 92cm, được niêm phong có chữ ký ghi tên Võ Cao M và dấu vân tay ghi tên Cao Văn H; 01 con dao bằng kim loại màu đen dài khoảng 19,5cm, bị gãy mũi, được niêm phong trong 01 gói có chữ ký ghi tên Huỳnh C ng T2; 01 quần short nam, vải jean, màu xanh được niêm phong trong 01 gói có chữ ký Võ Cao M và dấu vân tay ghi tên Cao Văn H; 01 áo sơ mi dài tay, sọc nhuyễn trắng xanh, 01 áo sơ mi dài tay, màu vàng và 01 cái quần vải màu xanh rêu tất cả được niêm phong trong 01 gói niêm phong ghi tên Huỳnh C ng T2; 01 cái áo thun màu trắng trước ng c có in h nh màu đen trong gói niêm phong ghi tên Huỳnh C ng T2.

Giao cơ quan thi hành án Dân s có th m quyền tiến hành đăng báo t m chủ s hữu hợp pháp của 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Kh ng xác định, số loại: kh ng xác định, BS: 95H1-2864, SM: VDMD100- 10023725, SK: 1011425.

Trong thời hạn 06 tháng, nếu kh ng có người đến nhận th tịch thu sung Ngân sách Nhà nước xe trên.

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số: NK2020/409 ngày 18 tháng 8 năm 2020 của C c Thi hành án dân s Thành phố Hồ Ch Minh)

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố t ng h nh s ; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án ph và lệ ph tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án ph h nh s sơ th m và 7.500.000 (bảy triệu năm trăm ngàn) đồng án ph dân s sơ th m.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân s th người phải thi hành án dân s có quyền t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s .

Kể từ ngày Bản án có hiệu l c pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thanh toán đủ số tiền bồi thường cho bị hại th hằng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân s năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo xin xét x phúc th m.

Cỡ chữ