vanban.org

Bản án 167/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 17/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Vĩnh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Vĩnh L 02 (hai) năm tù. Thời gian phạt tù được tính từ ngày 02/8/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Vĩnh L 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Vĩnh L "trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Vĩnh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2021/HS-ST
Ngày: 17-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Thị Kim Tiến;

Bà Lê Thị Xuân Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đính - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 165/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Huỳnh Vĩnh L, sinh năm 1985 tại Long An; Nơi đăng ký HKTT: Ấp B, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh Long An. Chỗ ở: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ngọc Tr, sinh năm 1942 (chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1943 (sống); có vợ tên Lê Thị Hồng G, sinh năm: 1985; có 01 con, sinh năm: 2010; tiền sự: Không.

Tiền án: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 07/2011/HS-ST ngày 27/01/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, xử phạt Huỳnh Vĩnh L 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 29/4/2016, L chấp hành xong bản án, chưa được xóa án tích (căn cứ khoản 2 Điều 73 Bộ luật hình sự).

Về nhân thân: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 35/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An, xử phạt Huỳnh Vĩnh L 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 31/3/2019, L chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích (căn cứ khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2021 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Hoàng Đình C, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp M, xã M1, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bùi Viết D, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp 4, thị trấn A1, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Cao Song H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp M, xã M1, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).

2. Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp 4, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 02/8/2021, Huỳnh Vĩnh L điều khiển xe mô tô Honda loại Dream, biển số 67N5-5260 đi từ nhà của Nguyễn Thị Cẩm L (sống với L như vợ chồng), tại ấp 4, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh Long An, đến khu dân cư Trần Anh thuộc Ấp M, xã M1, huyện Đ, tỉnh Long An, mục đích tìm tài sản của người dân để sơ hở trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi ngang qua nhà ông Hoàng Đình C tại số B2/26 thuộc khu dân cư Trần Anh, L phát hiện trên lầu 1 nhà ông C có 01 cánh cửa vào phòng ngủ và 01 cánh cửa sổ đang mở nên nảy sinh ý định vào nhà ông C trộm cắp tài sản, L dừng xe sát lề đường cách nhà ông C khoảng 20 mét, L quan sát không có ai nên leo lên hàng rào và trèo lên lầu 1 do cửa lầu không khóa. L vào phòng phát hiện 01 điện thoại di động Apple Iphone 12 màu xanh để cặp cửa, dưới nền gạch. L lấy điện thoại xong trèo xuống và ra ngoài điều khiển xe về nhà Nguyễn Thị Cẩm L cất giấu điện thoại di động trong túi áo khoác của L và đi ngủ.

Nhận được tố giác của ông Hoàng Đình C, Công an xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa kiểm tra định vị từ số điện thoại di động của ông C, xác định điện thoại di động của ông C đang bị cất giấu tại nhà của Nguyễn Thị Cẩm L tại ấp 4, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh Long An. Công an xã Mỹ Hạnh Nam kết hợp với Công an xã Đ1, huyện Đ đến nhà Linh kiểm tra, mời Huỳnh Vĩnh L làm việc. Quá trình làm việc, L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra tiến hành bắt khẩn cấp đối với Huỳnh Vĩnh L, thu giữ vật chứng để điều tra làm rõ.

Tại bản kết luận về định giá tài sản số 88/KL.ĐGTS ngày 03/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Đức Hòa, tỉnh Long An kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12, 64GB, màu xanh của ông C bị mất trộm trị giá thành tiền là 18.516.00 đồng.

Cơ quan điều tra tiến hành trao trả cho ông Hoàng Đình C 01 điện thoại di động Apple Iphone 12 màu xanh, là tài sản hợp pháp của ông C theo biên bản trả tài sản ngày 04/8/2021.

Xe mô tô Honda loại Dream có gắn biển số giả 67N5-5260 là của Huỳnh Vĩnh L, Cơ quan điều tra xác định xe không rõ nguồn gốc là phương tiện L sử dụng vào việc phạm tội hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang tạm giữ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về bản kết luận giám định, đồng thời không có khiếu nại gì đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tại bản Cáo trạng số 166/CT-VKS-ĐH ngày 13/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Huỳnh Vĩnh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, 3 Điều 329; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Vĩnh L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Hoàng Đình C sau khi nhận lại 01 điện thoại di động Apple Iphone 12 màu xanh bị mất trộm không có yêu cầu gì đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô Honda loại Dream, Cơ quan điều tra xác định xe không rõ nguồn gốc, số khung không có, số máy không có; xe không có người đứng tên đăng ký chủ quyền bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với biển số xe giả 67N5-5260 không có giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Huỳnh Vĩnh L phải nộp án phí theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trước tòa, bị cáo Huỳnh Vĩnh L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra trước tòa, thể hiện: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 02 tháng 8 năm 2021, tại khu dân cư Trần Anh thuộc ấp M, xã M1, huyện Đ, tỉnh Long An. Huỳnh Vĩnh L có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Apple Iphone 12, 64GB màu xanh trị giá thành tiền là 18.516.000 đồng của ông Hoàng Đình C nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hành vi của bị cáo lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của ông Hoàng Đình C, bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 18.516.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa là có căn cứ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an của địa phương. Vì vậy cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2011/HS-ST ngày 27/01/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, xử phạt Huỳnh Vĩnh L 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 29/4/2016, bị cáo chấp hành xong bản án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội là tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu; tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 35/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An, xử phạt Huỳnh Vĩnh L 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 31/3/2019, L chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích nên khi quyết định hình phạt cần đánh giá phù hợp với mức độ phạm tội của bị cáo và cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiện dân sự: Ông Hoàng Đình C sau khi nhận lại 01 điện thoại di động Apple Iphone 12 màu xanh bị mất trộm không có yêu cầu gì đối với điện thoại di động nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô Honda loại Dream, Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa xác định xe không rõ nguồn gốc, số khung không có, số máy không có; xe không có người đứng tên đăng ký chủ quyền bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với biển số xe giả 67N5-5260 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

(hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang tạm giữ).

Về án phí: Áp dụng Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Huỳnh Vĩnh L phải nộp án phí hình sự theo qui định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Vĩnh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Vĩnh L 02 (hai) năm tù. Thời gian phạt tù được tính từ ngày 02/8/2021.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Vĩnh L 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy biển số xe giả 67N5-5260;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe mô tô Honda loại Dream, số khung không có, số máy không có (hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang tạm giữ).

Về án phí: Căn cứ vào Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Huỳnh Vĩnh L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ niêm yết bản án.

Cỡ chữ