- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Q đối với Bà Phạm Thị P về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 167/2020/HNGĐ-ST Ngày: 25-6-2020 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đức Hiếu
Bà Phạm Hồ Quỳnh Uyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân là thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Bà Trần Lê Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 67/2020/TLST-HNGĐ ngày 17/3/2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2020/QĐST0HNGĐ ngày 09/6/2020 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành Q - Sinh năm: 1962. Nơi cư trú: Thôn Q, Đại Hiệp, Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị P - Sinh năm: 1967. Nơi cư trú: đường N, phường X, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/2/2020, bảng tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thành Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và Bà Phạm Thị P tự nguyện kết hôn vào năm kết hôn vào năm 1985, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Quảng Nam. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại xã Q, huyện L, tỉnh Quảng Nam; sau đó vợ chồng ông chuyển đến xã H, huyện L, tỉnh Quảng Nam và hiện nay chuyển về phường X, quận L, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình sinh sống thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, ông đã về quê tại thôn Q, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Nam còn bà P vẫn sinh sống tại đường N, phường X, quận L, thành phố Đà Nẵng. Nay ông xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án cho ông được ly hôn với Bà Phạm Thị P.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung là chị Nguyễn Thanh D, sinh năm 1985 và anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1991. Các con của ông bà đã thành niên nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Thành Q xác định vợ chồng không có.
Đối với bị đơn Bà Phạm Thị P : Mặc dù bà P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải (2 lần), Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà P vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành Q .
* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thành Q đối với Bà Phạm Thị P.
Về con chung: Ông Q không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Q xác định vợ chồng không có nên đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/2/2020 thì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà P, không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung và nợ chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”.
Về thẩm quyền của Tòa án: Bị đơn Bà Phạm Thị P có hộ khẩu thường trú tại đường N, phường X, quận L, thành phố Đà Nẵng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ có thẩm quyền giải quyết.
Bị đơn Bà Phạm Thị P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P.
Về nội dung.
Về quan hệ hôn nhân:
Ông Nguyễn Thành Q và Bà Phạm Thị P tự nguyện kết hôn vào năm 1985, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Quảng Nam (theo trích lục kết hôn số 91/2020/TLKH-BS ngày 21/2/2020 do UBND xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam cấp). Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu ly hôn của ông Q, HĐXX nhận thấy: sau khoảng thời gian sống chung, vợ chồng ông đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Vợ chông ông đã không chung sống với nhau một thời gian dài. Ông đã về quê tại thôn Q, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Nam còn bà P vẫn sinh sống tại đường N, phường X, quận L, thành phố Đà Nẵng. Ngoài ra, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà P vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng hay để Tòa án tiến hành hòa giải. Điều này chứng tỏ bà P không muốn hàn gắn cũng như tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân giữa bà và ông Q. Xét mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa ông Q và bà P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và tại phiên tòa, ông Q xác định không còn tình cảm với bà P nữa nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Q đối với bà P.
Về con chung: Các con chung của ông bà đã thành niên và ông không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa ông Q xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa phù hợp với phân tích nêu trên nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Ông Nguyễn Thành Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Q đối với Bà Phạm Thị P về việc ly hôn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thành Q được ly hôn với Bà Phạm Thị P.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Thành Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001004 ngày 16/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Ông Q đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ; - VKSND quận Cẩm Lệ; - UBND xã Đại Quang, Đại Lộc, Quảng Nam; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Hưng |