- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "tranh chấp đòi tài sản"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Th Bé N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| - TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG Bản án số:167/2019/DS-ST Ngày: 15-11-2019 “V/v Tranh chấp đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Th im Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1/- Ông Trần Thành Hiệp
2/- Ông Trần Đăng hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Th Minh H là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Th Tố Anh – iểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2019/TLST–DS ngày 28 tháng 8 năm 2019 về “Tranh chấp đòi tài sản” theo quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 191/2019/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Th Bé N, sinh năm: 1965( có mặt).
Cư trú: Tổ 10, ấp Vĩnh T, xã Vĩnh B , huyện C, tỉnh An Giang.
B đơn: Bà Nguyễn Th H, sinh năm: 1983(vắng mặt).
Ông Lê Văn T, sinh năm: 1981 ( vắng mặt).
Cùng cư trú: Tổ 2, ấp Vĩnh L, xã Vĩnh B, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai cùng ngày 02-8-2019 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé N trình bày:
Bà có tham gia chơi hụi do bà Hà Th Thanh T làm chủ, hụi 3.000.000 đồng hụi tháng mỗi tháng khui 1 lần, khui lần đầu vào ngày 16/9/2016 âl tổng số 26 phần, bà tham gia 1 phần và đóng được 1 lần hụi sống. Đến kỳ khui hụi lần thứ 2 bà Nguyễn Th H có hỏi mượn phần hụi nầy của bà và đã hốt hụi. Việc cho mượn hụi giữa bà và bà H được sự đồng ý của bà T và có lập “biên nhận mượn hụi” ngày 16/10/2016 âl có bà, bà H và bà T cùng ký tên xác nhận. Mục đích bà H mượn hụi là để mua thức ăn chăn nuôi v t của vợ chồng, thời điểm đó bà H và ông T nuôi khoản 3.000 con v t đẻ. Sau khi hốt hụi bà H đóng được 8 lần hụi chết, sau đó không đóng hụi chết tất cả 17 lần là 51.000.000đ, nên bà phải đóng thay cho bà H, hụi mãn vào ngày 16/9/2018 âl.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Th H và ông Lê Văn T phải có nghĩa vụ trả lại cho bà số tiền hụi đã đóng thay cho bà H là 51.000.000đ và không yêu cầu tính lãi.
Đối với bị đơn Bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn T: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án có tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng phía b đơn đều vắng mặt không có lý do, cũng không cung cấp lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:Tại giai đoạn sơ thẩm những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy đ nh của bộ luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng quy đ nh pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc các b đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 51.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Th H và ông Lê Văn T là b đơn trong vụ kiện đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Th H và ông Lê Văn T.
Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Th Bé N khởi kiện bà Nguyễn Th H và ông Lê Văn T cùng có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi chết bà đã đóng thay cho bà H 51.000.000đ.Tuy phía bà H và ông T đều vắng mặt tại phiên tòa, song căn cứ vào các chứng cứ nguyên đơn cung cấp như biên nhận mượn hụi đề ngày 16/10/2016 âl do bà Nguyễn Th H ký nhận có nội dung: “ Tôi tên Nguyễn Th H sinh ngày 19/4/1983 CMND số xxxxxxxxx cấp ngày 29/2/2006 tại công an Tỉnh An Giang. Hiện ngụ tại ấp Vĩnh L, xã Vĩnh B, huyện C, An Giang. Có mượn dây hụi 3.000.000đ/tháng mở ngày 16/9/2016 âl đóng ngày 16/9/2018 âl, tổng cộng 26 người do bà Hà Th Thanh T làm chủ. Dây hụi nầy tôi mượn của bà Nguyễn Th Bé N sn 1965 hiện ngụ tại Vĩnh T , Vĩnh B , C, tỉnh An Giang. ể từ ngày 16/10/2016 âl tôi hoàn toàn ch u trách nhiệm đóng hụi chết đối với dây hụi 3.000.000đ trên" có bà Hà Th Thanh T chủ hụi ký tên làm chứng và lời khai của bà Nguyễn Th H tại biên bản lấy lời khai ngày 28/3/2019 (Do ngày 26/3/2019 bà Nguyễn Th Bé N có khởi kiện bà Nguyễn Th H, sau đó đến ngày 18/7/2019 bà rút lại đơn khởi kiện) bà H đều thừa nhận do chổ quen biết anh chồng bà là sui gia với bà Bé Nhỏ nên bà có hỏi mượn dây hụi 3.000.000đ/tháng của bà Bé Nhỏ gồm 26 phần do bà Hà Th Thanh Tlàm chủ, hụi khui đến kỳ thứ 2 thì bà mượn hốt để làm vốn chăn nuôi v t của gia đình và có ký vào biên nhận mượn hụi có bà T chủ hụi làm chứng, sau khi hốt hụi bà có đóng hụi chết nhưng không nhớ đóng bao nhiêu lần, bà xác nhận còn nợ bà Bé Nhỏ 51.000.000đ do bà Bé N đóng thay hụi cho bà nhưng bà yêu cầu ông Lê Văn T cùng ch u trách nhiệm liên đới trả số tiền trên cho bà Bé N vì bà mượn hụi để chăn nuôi v t lo cho cuộc sống gia đình.Qua xác minh bà Hà Th Thanh T trình bày “ bà Bé N có tham gia chơi hụi do bà làm chủ hụi 3.000.000đ 1 tháng khui 1 lần gồm 26 phần đến lần thứ 2 thì bà Bé N hốt, bà Bé N nói với bà cho bà H mượn hụi, bà trực tiếp giao hụi cho bà Bé N tiền hụi khoản 65.000.000đ, số tiền trên bà bé N đưa lại cho bà H có bà trực tiếp chứng kiến và ký xác nhận người làm chứng cho bà Bé N, tiền hụi chết bà bé N đã đóng cho bà xong, tổng cộng khoản 72.000.000đ”.Từ những chứng cứ trên đã đủ cơ sở xác đ nh đ nh bà Nguyễn Th H có nợ bà Nguyễn Th Bé N tiền chầu hụi thay là thật và hiện còn nợ 51.000.000 đồng, do đó trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở nên được chấp nhận.
Về nghĩa vụ trả nợ: Nguyên đơn bà Nguyễn Th Bé N yêu cầu bà H và ông T cùng có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 51.000.000đ cho bà. Xét thấy tuy biên nhận mượn hụi chỉ có bà H là người ký xác nhận, song qua lời khai nguyên đơn, lời thừa nhận của b đơn bà H, lời trình bày của nhân chứng cho thấy bà H vay số tiền trên sử dụng vào việc chăn nuôi v t đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, thời điểm nầy bà H và ông T còn trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp đến ngày 25/3/2019 thì bà H và ông T mới ly hôn theo quyết đ nh số 96/2019/QĐST-HNGĐ, do đó căn cứ vào điều 27 luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần buộc bà H và ông T có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 51.000.000 đồng cho bà Bé N là phù hợp.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Th H và ông Lê Văn T phải ch u 5% án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho bà Nguyễn Th Bé N. Do yêu cầu được chấp nhận nên bà Nguyễn Th Bé N được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều166, 471, 494 Bộ luật dân sự 2015;Các điều 27,30,37 luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Các Điều 2266,, 3355,, 3399,, 9911,, 9933,, 9944,, 114477,, 222277,, 222288,, 227733 Bộ luật Tố tụng dân sự; Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Th Bé N.
Buộc bà Nguyễn Th H và ông Lê Văn T có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà Nguyễn Th Bé N số tiền là 51.000.000đ( năm mươi mốt triệu đồng).
ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy đ nh tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
- Về án phí: bà Nguyễn Th H và ông Lê Văn T phải ch u 2.550.000đ ( hai triệu năm trăm năm chục triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Th Bé N được hoàn lại 1.275.000 đồng (một triệu hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004403 ngày 28/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Bà Nguyễn Th Bé N có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/11/2019). Bà Nguyễn Th H và ông Lê Văn T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy đ nh tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng (để thi hành); THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - TAND tỉnh; -V SND huyện Châu Thành; -Chi cục THA.DS huyện; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Phan Thị Kim Hoa Phan Th im Hoa |