vanban.org

Bản án 167/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 04/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Trần Đ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Trần Đ L 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 09/02/2018. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đ L trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Trần Đ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2018/HSST
Ngày 04-6-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Hoan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn sâm;

Bà Chu Thị Bốn;

Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04-6-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 171/2018/TLST-HS, ngày 24 -4-2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2018/QĐXXST-HS ngày 21-5-2018, đối với bị cáo:

Trần Đ L, sinh năm 1962; HKTT (Từ năm 1998 trở về trước): Số 32 Phạm Hồng Thái, Phạm Hồng Thái, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng (Hiện sống lang thang); Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Trần Đ T (Đã chết) và bà Trần T N(Đã chết);

Vợ, con: chưa có

Tiền án: có 01 tiền án;

Tại bản án số 63/2004/HSST ngày 05/11/2004 của TAND quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Chưa chấp hành phần án phí.

Tiền sự: Không

Nhân thân:

Tại bản án số 122/1985/HSST ngày 01/10/1985 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Tại bản án số 10/1993/HSST ngày 02/3/1993 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bản án số 195/1998/HSST ngày 07/10/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bản án số 15/2007/HSST ngày 18/4/2007 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bản án số 43/2010/HSST ngày 27/12/2010 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/02/2018 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại:

Anh D H, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu Công Binh, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt tại phiên tòa);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/02/2018, tại trụ sở Báo Bắc Ninh ở số 12, đường Nguyên Phi Ỷ Lan, phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, được tin báo qua điện thoại Đội Cảnh sát điều tra về trật tự xã hội Công an thành phố Bắc Ninh đã phối hợp với quần chúng nhân dân bắt quả tang Trần Đ L có hành vi dùng vam phá khóa ổ điện xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, BKS 54 U2-9358 của anh D H, sinh năm 1978, HKTT; Dương xá, Gia Lâm, Hà Nội; Địa chỉ nơi ở: Khu Công Binh, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.. Vật chứng thu giữ gồm:

01 mũi vam phá khóa hình lục lăng và 01 tay công phá khóa (L đang cầm ở tay).

02 mũi vam phá khóa (Trong túi quần của L).

01 xe mô tô nhãn hiệu Air Blade BKS 54 U2-9358.

Tại kết luận định giá số 538/KL-HĐ ngày 09/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Bắc Ninh kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, BKS 54 U2-9358 có giá 20.000.000đồng.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, L khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 09/02/2018, L đi bộ một mình quanh thành phố Bắc Ninh với mục đích xem ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền ăn tiêu. Trước khi đi L mang theo 03 mũi vam phá khóa và 01 tay công. Khi L đi đến trụ sở Báo Bắc Ninh, L đi qua cổng chính ra phía sau thì thấy có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, BKS 54 U2-9358 đang để trong nhà xe, quan sát không thấy có người trông giữ, L tiến lại gần chiếc xe, dùng vam phá khóa chọc vào ổ khóa điện của chiếc xe để phá khóa điện thì bị bắt quả tang.

Với các tình tiết nêu trên tại Bản Cáo trạng số 89/CTr - VKS-VKSNDTPBN ngày 24/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Trần Đ L ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc ninh để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên bản cáo trạng số 89/CTr - VKS-VKSNDTPBN ngày 24/4/2018 và sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt Trần Đ L từ 18 đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết do người bị hại không có yêu cầu.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 03 mũi vam phá khóa và 01 tay công phá khóa.

Bị cáo không tham gia tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với thời gian, không gian, địa điểm mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người làm chứng, lời khai của người bị hại, vật chứng thu hồi được và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/02/2018, Trần Đ L đã L dụng sự sơ hở của chủ sở hữu đã lén lút dùng vam phá khóa điện của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, BKS 54 U2-9358 trị giá 20.000.000 đồng của anh D H, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu Công Binh, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh với mục đích đem bán để lấy tiền ăn tiêu thì bị bắt quả tang, việc bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 73 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng số 89/CTr - VKS-VKSNDTPBN ngày 24/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Trần Đ L với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tác hại và sự nguy hiểm về hành vi của bản thân, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà mình đã thực hiện; Hành vi của bị cáo cần phải xử lý bằng luật hình sự, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 06 lần bị Tòa án kết tội về những tội danh khác nhau, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo là người khó cải tạo giáo dục, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Sau khi phạm tội, tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, nên cần căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự để cân nhắc mức hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo có 01 bản án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của anh D H là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã thu hồi trả lại cho anh H trong tình trạng ổ khóa điện của chiếc xe bị cạy bong tróc lớp mạ, nhưng anh H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên vấn đề trách nhiệm bồi thường dân sự của bị cáo với anh H không đặt ra xem xét giải quyết và cần ghi nhận sự tự nguyện này của anh H.

Về vật chứng của vụ án: 03 mũi vam phá khóa và 01 tay công phá khóa là dụng cụ liên quan trực tiếp tới tội phạm, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về thu nộp án phí, lệ phí.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát về tội danh và xử lý vật chứng là có căn cứ cần được chấp nhận; Về mức hình phạt là hơi cao.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo: Trần Đ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt:

Trần Đ L 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 09/02/2018.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo Trần Đ L 45 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/6/2018 để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 03 mũi vam phá khóa hình lục lăng và 01 tay công phá khóa.

Về án phí: Bị cáo Trần Đ L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ