vanban.org

Bản án 167/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 23/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tsềnh Học V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Tsềnh Học V 05 (Năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2018. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tsềnh học vạy trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tsềnh Học V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 167/2018/HSST
Ngày: 23-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Văn Đài

Ông Nguyễn Huy Giáp

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện VKSND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2018/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: Tsềnh Học V, sinh năm 1993; Nơi cư trú: số 21/6, khu 3, ấp T, xã H, huyện B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tsềnh Say P, sinh năm 1962 và bà Chề A L, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt, tạm giam ngày 12/10/2018. (Có mặt).

Người bị hại: Ông Trống Hữu Q, sinh năm 1954

Địa chỉ: khu 1, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

Người làm chứng: Ông Nguyễn Phương B, sinh năm 1973

Địa chỉ: khu 1, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tsềnh Học V là đối tượng nghiện ma tuý không có việc làm ổn định. Tối ngày 07/9/2018, V đi đến khu rẫy của gia đình V sát bên rẫy bưởi của ông Trống Hữu Q tại khu 4, ấp Tân Hoa, xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom để nằm ngủ. Đến khoảng 00 giờ ngày 08/9/2018, V mang theo 01 cây kéo và 01 cái xe rùa và 01 cái giỏ nhựa màu đỏ đến khu vực rẫy bưởi của nhà ông Q để trộm cắp bưởi bán lấy tiền mua ma tuý sử dụng. V dùng kéo cắt trộm bưởi trên khoảng 10 cây bưởi, V để bưởi cắt được dưới gốc cây. Sau đó, V dùng xe rùa chở một phần về rẫy nhà V, số bưởi đã cắt trộm còn lại V để bên phía rẫy nhà ông Q. Khoảng 05 giờ sáng cùng ngày V dùng xe mô tô hiệu Max (không rõ biển số, V mượn của 01 người bạn tên Sáng trước đó) chở 03 bao tải bưởi đã trộm cắp được (khoảng 60kg) đến bán cho bà Trần Thị Mỹ tại ấp Trần Cao Vân, xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai được 900.000đ (Chín trăm ngàn đồng). Trên đường về nhà, V đi đến khu vực phía sau nhà thờ giáo xứ Lộc Hoà, thuộc ấp Lộc Hoà, xã Tây Hoà, huyện Trảng Bom dùng hết số tiền bán bưởi mua ma tuý của 01 người phụ nữ tên Hiền (không rõ nhân thân lai lịch) sau đó V đi về thì Sáng tới đòi lại xe, V trả xe cho Sáng rồi đi vào chòi rẫy của gia đình sử dụng hết số ma tuý đã mua rồi nằm ngủ.

Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 08/9/2018, ông Nguyễn Phương B là người làm thuê cho ông Q phát hiện rẫy nhà ông Q bị mất trộm bưởi nên báo cho ông Q đồng thời báo Công an xã Bàu Hàm vào làm việc. Công an xã Bàu Hàm đã tiến hành xác minh và làm việc với Tsềnh Học V thì V thừa nhận hành vi trộm cắp bưởi của ông Q. Công an xã Bàu Hàm đã ghi nhận hiện trường, phát hiện và tạm giữ số bưởi đang để ở dưới góc cây bưởi trên đất nhà ông Q và số quả bưởi đang để ở vị trí gần đường mương dẫn nước trên đất nhà V tổng cộng 134 quả bưởi có trọng lượng 227 kg Công an xã Bàu Hàm đã chuyển hồ sơ cùng với vật chứng của vụ án đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Trảng Bom để điều tra xử lý theo thẩm Q.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 14/9/2018, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom kết luận: 134 quả bưởi (tổng trọng lượng là 227 kg) có giá trị là: 5.675.000 đồng (Năm triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã thu giữ: 134 quả bưởi có trọng lượng 227 kg, Công an xã Bàu Hàm đã chuyển hồ sơ cùng với vật chứng của vụ án đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Trảng Bom để điều tra xử lý theo thẩm Q.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã tiến hành xác minh, kết quả: Tsềnh Học V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, V còn khai nhận vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/9/2018 V còn trộm của ông Q 10 quả bưởi bán cho bà Trần Thị M được 700.000 đồng, bà Trần Thị M không thừa nhận đã mua số bưởi của V. Ngoài lời khai của V thì không có căn cứ chứng minh nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không có căn cứ để xử lý.

- Xử lý vật chứng:

Đối với 01 kéo bằng sắt, 01 cái giỏ bằng nhựa màu đỏ, 01 xe rùa do V lấy của gia đình, việc sử dụng các vật chứng trên làm công cụ phạm tội thì ông Tsềnh Say Phắn (là cha ruột của V) không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Phắn.

Đối với 134 quả bưởi Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.

- Về dân sự: Do tài sản đã được thu hồi và trả cho ông Trống Hữu Q là chủ sở hữu, ông Q không thắc mắc khiếu nại về phần dân sự của vụ án.

Tại Cáo trạng số: 183/CT-VKS-HS ngày 07/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Tsềnh Học V về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt:

- Bị cáo Tsềnh Học V mức án từ 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) tháng tù.

Các biện pháp tư pháp:

- Về dân sự: Đã giải quyết xong đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm Q, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử; Kiểm sát viên thực hiện Q công tố; Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 00 phút 00 ngày 08/9/2018, tại vườn bưởi thuộc ấp T, xã H, huyện B, tỉnh Đồng Nai, Tsềnh Học V đã lén lút chiếm đoạt 227kg bưởi với giá trị 5.675.000đ (Năm triệu sáu trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) của ông Trống Hữu Q.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của Tsềnh Học V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến Q sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự, an ninh xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho chủ tài sản trong việc bảo quản tài sản của mình. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng, phạm tội gây thiệt hại không lớn; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Ngày 29/10/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Tsềnh Say P: 01 kéo bằng sắt, 01 cái giỏ bằng nhựa màu đỏ, 01 xe rùa. Trả cho ông Tống Hữu Q 134 trái bưởi (tổng trọng lượng 227kg.

Về dân sự: Do tài sản đã được thu hồi và trả cho người bị hại, người bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nào khác, nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

- Tuyên bố: Bị cáo Tsềnh Học V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Tsềnh Học V 05 (Năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2018.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo được Q kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Trống Hữu Q vắng mặt tại phiên tòa được Q kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kề từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ