vanban.org

Bản án 167/2018/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 30/07/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/07/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Căn cứ chính? Điều 3 Bộ luật Tố tụng D n sự; Điều 31 Bộ luật Tố tụng D n sự; Điều 8 Bộ luật Tố tụng D n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T NH Đ N THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2018/DS-PT
Ngày 30 - 7 - 2018
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘN HÒA XÃ HỘI CHỦ N HĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH Đ N THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Ch T

Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Phương

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn M n - Thư T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Ông Lê Minh Bằng - Kiể sát viên tham gia phiên toà.

Vào các ngày 09 tháng 1 27 tháng 3 3 tháng 7 nă 2018 tại Trụ s T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩ công hai vụ án thụ l số: 157/2017/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 nă 2 17 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án d n sự sơ thẩ số: 12/2017/DS-ST ngày 28 tháng 6 nă 2 17 của Toà án nh n d n huyện H bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩ số: 302/2017/QĐPT-DS ngày 17 tháng 11 nă 2 17 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Văn N sinh nă : 1969.

Địa ch : ấp G Bói, xã T n Hộ C huyện H t nh Đ ng Tháp.

2. Bị đơn:

2.1. Nguyễn Văn T sinh nă : 1977;

2.2. Nguyễn Văn D sinh nă : 1952.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông De: Nguyễn Văn T, sinh nă : 1977

Cùng địa ch : ấp Chiến Thắng xã T n Hộ C huyện H t nh Đ ng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp bị đơn anh Tuấn: Luật sư Lê Thị V n Lan - Văn ph ng luật sư Lê Lan Đoàn luật sư t nh Đ ng Tháp.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Nguyễn Văn Đ sinh nă : 1965;

3.2. Phan Văn D sinh nă : 1959;

Cùng địa ch : ấp Chiến Thắng xã T n Hộ C huyện H t nh Đ ng Tháp.

3.3. Võ Văn H sinh nă : 1953;

3.4. Phan Thị U sinh nă : 197 (vợ anh N).

Cùng địa ch : ấp G Bói xã T n Hộ C huyện H t nh Đ ng Tháp.

- Người háng cáo: Anh Nguyễn Văn T .

NỘI DUN VỤ ÁN:

- Nguyên đơn Nguyễn Văn N trình bày:

Phần đất đang tranh chấp là đất vườn tr ng c y l u nă có diện t ch 420m2 (số đo thực tế là 419 8 2) thuộc thửa 1711 tờ bản đ số 1 tọa lạc tại ấp Chiến Thắng xã T n Hộ C có ngu n gốc trước nă 1983 là do Ủy ban nh n d n xã T n Hộ C quản l (trực tiếp là Công an Xã đội). Nă 1983 thì ông Võ Văn H ( hi này là Phó Chủ tịch Xã) được Ủy ban nh n d n Xã cấp đến nă 1991 ông H chuyển nhượng lại cho ông Phan Văn D. Nă 1993 ông D chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn Đ; đến ngày 02-4-2 ông Đ chuyển nhượng lại cho vợ ch ng anh Nguyễn Văn N có là giấy viết tay hi vào sử dụng thì vợ ch ng anh N có tr ng bạch đàn dừa tre và giao cho anh ruột là ông Nguyễn Văn Th nhà gần trông coi hộ. Trong hoảng thời gian từ nă 1983 qua nhiều người chuyển nhượng và đến hi vợ ch ng anh N sử dụng thì gia đình ông Nguyễn Văn D Nguyễn Văn T ph a trước giáp ranh với phần đất này hông ngăn cản tranh chấp nhưng đến nă 2 1 thì anh T (con ông D) tự đe lưới B4 rào ngang đường đi vào phần đất trên hông cho gia đình anh N vào để sử dụng nên ngày 2-7-2014 anh N h i iện ông Đ tại T a án huyện H yêu cầu hủy hợp đ ng chuyển nhượng đất giữa anh N với ông Đ và được Tòa án nh n d n huyện H xét xử hông chấp nhận yêu cầu của anh N và công nhận Hợp đ ng chuyển nhượng giữa anh N với ông Đ là hợp pháp. Nay anh N yêu cầu ông D, anh T di dời hai c y e nước do ông De anh T tr ng ra hỏi đất và trả phần đất như nêu trên lại cho vợ ch ng anh N (Vì anh N cho rằng nhận chuyển nhượng phần đất trên là cho hộ của anh).

- Bị đơn ông Nguyễn Văn D, anh Nguyễn Văn T do anh T đại diện trình bày:

Nă 1983 ông Nguyễn Văn D (cha ông Nguyễn Văn T) được Ủy ban nh n d n xã T n Hộ C (khi đó là các ông Trần Văn C (đã chết) Nguyễn Văn H (đã chết) Nguyễn Văn V) cấp ột phần đất diện t ch 2.134 9 2 tọa lạc ấp Chiến Thắng xã T n Hộ C (bao g đất hiện nay gia đình ông D đang cất nhà và cả phần đất đang tranh chấp ph a sau). Việc cấp đất có giấy tay nhưng gia đình ông D đã là thất lạc. Đến nă 1998 gia đình ông D đi đăng thì được Ủy ban nh n d n huyện H cấp giấy chứng nhận ch có 9 2 (g 3 2 đất thổ 6 2 đất c y l u nă ) vào nă 2

số đất c n lại thì Ủy ban nh n d n xã T n Hộ C cho biết là hông cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Nay ông D, anh T hông đ ng với yêu cầu của anh N vì phần đất tranh chấp này là gia đình của hai ông được Ủy ban nh n d n xã T n Hộ C cấp từ nă 1983 do đó nay yêu cầu vợ ch ng anh N di dời tất cả các c y bạch đàn dừa tre à anh N đã tr ng ra hỏi phần đất của gia đình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Văn H, Phan Văn D, Nguyễn Văn Đ trình bày :

Các ông H, D Đ đều xác định đúng vị tr phần đất đang tranh chấp có ngu n gốc trước nă 1975 là đất đ n của chế độ cũ sau giải phóng thống nhất đất nước thì Ủy ban nh n d n xã T n Hộ C quản l (giao cho Công an Xã đội sản xuất tự túc đời sống) đến nă 1982 ới cấp ột phần cho ông Võ Văn H (khi này ông H là Phó Chủ tịch ủy ban nh n d n xã T n Hộ C), ông H sử dụng ột thời gian đến nă 1991 thì chuyển nhượng lại cho ông Phan Văn D, ông D sử dụng đến hoảng nă 1996 – 1997 thì chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn Đ ông Đ sử dụng đến ngày 2-4-2 thì chuyển nhượng lại cho vợ ch ng anh Nguyễn Văn N sử dụng cho đến nay (có là giấy viết tay) và vào nă 2 15 thì được T a án nh n d n huyện H xét xử công nhận hợp đ ng chuyển nhượng đất giữa ông Đ với anh N. Nay trong vụ án này các ông H, ông D ông Đ hông yêu cầu gì cả vẫn thống nhất đã chuyển nhượng xong nay vợ ch ng anh N được sử dụng là hợp pháp.

- Theo lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng, cũng như tại phiên tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị U (vợ anh N):

Phần đất tranh chấp là do bà cùng ch ng là anh Nguyễn Văn N cùng chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Đ vào nă 2

nay thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của anh N hông iến gì thê .

Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2017/DS-ST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện H quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn N. Buộc ông Nguyễn Văn D, anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ liên đới di dời bằng ọi hình thức hai c y e nước có đường nh gốc tại thời điể thẩ định ngày 1 -10-2016 là khoảng 5c (do ông Nguyễn Văn D, anh Nguyễn Văn T tr ng về hướng na cập ranh phần đất) để giao trả 419 8 2 đất tại thửa số: 1711 tờ bản đ số: 1 ục đ ch sử dụng: Tr ng c y l u nă tọa lạc ấp Chiến Thắng xã T n Hộ C huyện H t nh Đ ng Tháp cho hộ anh Nguyễn Văn N quản l sử dụng ể cả 13 c y bạch đàn có đường nh lớn nhất hoảng 2 c nhỏ nhất hoảng 3c 1 c y dừa đang cho trái 5 bụi tre ạnh tông (tại thời điể thẩ định ngày 1 -10-2 16) do hộ anh Nguyễn Văn N tr ng và hộ anh Nguyễn Văn N có trách nhiệ đến Cơ quan Nhà nước có thẩ quyền ê hai đăng để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Phần đất có vị tr như sau:

- Hướng đông giáp: Đất ông Phan Văn D (H ng D), dài 15,03 mét.

- Hướng t y giáp: Đất ông Nguyễn Văn D, dài 14,86 mét.

- Hướng na giáp: Đất ông Phan Văn D (H ng D), dài 28,98 mét.

- Hướng bắc giáp: Đất ông Nguyễn Văn D, dài 28,21 mét.

(Có sơ đ đo hiện trạng đất ngày 22-11-2016 kèm theo)

2. Về án ph d n sự sơ thẩ :

- Ông Nguyễn Văn D, anh Nguyễn Văn T liên đới nộp 3.148.5 đ ng (Ba triệu ột tră bốn ươi tá ngàn nă tră đ ng) tiền án ph d n sự sơ thẩ .

- Các đương sự hác trong vụ án hông phải nộp án ph sơ thẩ .

- Hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn N số tiền: 525. đ ng (Nă tră hai ươi lă ngàn đ ng) tiền tạ ứng án ph d n sự sơ thẩ tại biên lai thu số BM/2012 036134 ngày 28-4-2 16 của Chi cục thi hành án d n sự huyện H, t nh Đ ng Tháp.

Ngoài ra bản án c n tuyên quyền yêu cầu thi hành án và quyền háng cáo của các đương sự. Sau hi xét xử sơ thẩ ngày 03/8/2017 anh Nguyễn Văn T có đơn háng cáo quá hạn toàn bộ nội dung bản án sơ thẩ . Kháng cáo quá hạn của anh T được Hội đ ng xét háng cáo quá hạn của T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp chấp thuận theo quyết định số 186/2 17/QĐ-PT ngày 21/8/2017.

Tại phiên t a phúc thẩ người đại diện hợp pháp anh T, anh N, ông Th, Luật sư L có ặt. Tại phiên t a các đương sự hẳng định đã xuất trình thêm đầy đủ chứng cứ cho T a án giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án tại phiên t a bị đơn anh T trình bày là anh giữ nguyên háng cáo và yêu cầu T a án công nhận đất tranh chấp là của gia đình anh vì đất là của ông D được nhà nước cấp.

Người bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp bị đơn anh T trình bày: đề nghị Tòa án xe xét lại tư cách của anh T đại diện cho ông D theo giấy ủy quyền vì tại thời điể ủy quyền ông D đã bị bệnh hông c n nhận thức đầy đủ hành vi của ông. Ngoài ra trên phần đất tranh chấp c n có các con ông D cùng quản l phần đất này có cùng hộ hẩu của ông D nhưng chưa được xe xét giải quyết trong cùng vụ án này. Đề nghị Hội đ ng xét xử xe xét thủ tục tố tụng hủy bản án sơ thẩ .

Anh N vẫn giữ nguyên yêu cầu h i iện và thống nhất với quyết định của T a án cấp sơ thẩ . Đối với lời trình bày và chứng cứ bị đơn cung cấp anh hông có iến. Anh đề nghị T a án chấp nhận yêu cầu của anh giữ nguyên bản án sơ thẩ .

Tại phiên t a đại diện Viện iể sát phát biểu iến về việc tu n theo pháp luật của Thẩ phán Hội đ ng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tha gia tố tụng đúng theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩ .

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được iể tra tại phiên t a và căn cứ vào ết quả tranh tụng tại phiên t a

iến phát biểu của đại diện Viện iể sát.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về phần đất đang tranh chấp giữa anh Nguyễn Văn N với ông Nguyễn Văn D, anh Nguyễn Văn T được xác định có diện t ch đo thực tế là 419,8m2 thuộc thửa số 1711 tờ bản đ số 1 ục đ ch sử dụng tr ng c y l u nă (theo xác nhận của Ủy ban nh n d n xã T n Hộ C ngày 30-10-2015), chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ai. Đất anh N có tr ng c y bạch đàn tre dừa; ông D, anh T cho rằng gia đình có tr ng cây trên đất và đang quản l nên hai bên phát sinh tranh chấp.

[2] T a án cấp sơ thẩ nhận định theo nguyên đơn anh N trình bày và cung cấp chứng cứ ngu n gốc đất là của ông Võ Văn H nă 1991 ông H chuyển nhượng diện t ch đất này cho ông Phan Văn D nă 1996 ông D chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn Đ. Đến ngày 02-4-2 ông Nguyễn Văn Đ có là giấy tay sang nhượng phần đất trên cho anh Nguyễn Văn N. Anh N quản l sử dụng tr ng cây trên phần đất này; đến nă 2 1 thì ông D, anh T dùng lưới rào bao chiế đất hông cho anh N tiếp tục sử dụng. Do đó anh N h i iện ông Đ yêu cầu hủy hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất l do đất ông D, anh T tranh chấp. Ông Đ hông đ ng hủy hợp đ ng chuyển nhượng với anh N.

[3] Ông D, anh T cho rằng đất tranh chấp gia đình ông D được Ủy ban xã T n Hộ C cấp vào nă 1983 diện t ch 2.134 9 2 nhưng vào nă 1998 lại đi ê hai để được cấy giấy chứng nhận quyền sử dụng thì ch ê hai có 900m2; đất đang tranh chấp gia đình anh T đang quản l từ trước đến nay trên đất có tr ng hai cây e nước. Tuy nhiên trong vụ án tranh chấp hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh N với ông Đ thì ông D, anh T không có yêu cầu tranh chấp đất.

[4] T a án cấp sơ thẩ xác định ngoài lời trình bày chứng cứ các đương sự cung cấp thì qua lời hai của các người là chứng thì đất tranh chấp ngu n gốc đất theo trình bày yêu cầu của anh N là có căn cứ. Căn cứ vào lời hai của anh T cũng như trong vụ án tranh chấp hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh N với ông Đ trước đ y mà Tòa án đã đưa ông D, anh T vào tha gia vụ án vào nă 2 15 thì cả hai hông có yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất trong vụ án. Do đó với nhận định trên xét thấy l lẽ đưa ra của ông D, anh T cho rằng phần đất đang tranh chấp là của ông D được Nhà nước cấp vào nă 1983 là hông có cơ s chấp nhận.

[5] Mặt hác ngày 15/4/2015 T a án nh n d n huyện H có quyết định tại bản án d n sự sơ thẩ số 1 /2 15/DSST tuyên hợp đ ng chuyển nhượng đất giữa ông Đ với anh N tuy là bằng giấy tay nhưng anh N đã quản l đất này từ nă 2 nên công nhận hợp đ ng chuyển nhượng giữa ông Đ và anh N là hợp pháp giữ nguyên hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bản án dân sự sơ thẩ số 10/2015/DSST ngày 15/4/2015 không có háng cáo và háng nghị đã có hiệu lực pháp luật. Từ đó quyết định chấp nhận yêu cầu của anh N đối với ông D, anh T; công nhận diện t ch đất 419 8 2 (theo đo thực tế) đang tranh chấp thuộc quyền quản l sử dụng của anh N. Anh T hông đ ng háng cáo bản án sơ thẩ .

[6] Xét kháng cáo của anh T về thủ tục tố tụng Luật sư người bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của anh T cung cấp chứng cứ chứng inh ông D bị bệnh tai biến đã l u sức hỏe ông D rất yếu ông hông c n tự vận động sinh hoạt được; hiện nay ông đang uống thuốc điều trị rối loạn t thần hác do tổn thương và rối loạn chức năng não do bệnh cơ thể nên đề nghị xe xét lại thủ tục ông D ủy quyền cho anh T là hông đúng quy định. Việc yêu cầu giá định t thần đối với ông D là hông thực hiện được vì sức hỏe hiện nay của ông D hông đủ để đi đến bệnh viện.

[7] Hội đ ng xét xử phúc thẩ xét thấy qua việc thu thập thêm các chứng cứ chứng inh được tình trạng sức hỏe ông D. Tháng 8 nă 2014 theo h sơ bệnh án ông D đã bị bệnh nh i áu não vùng động ạch não giữa trái; tắc hoàn toàn động ạch cảnh trong trái. Ông D đã nhiều lần nhập viện điều trị bệnh; ông D bị bệnh tai biến sinh hoạt hằng ngày phải nhờ người th n trợ giúp. Theo cán bộ thương binh xã hội xã T n Hộ C qua đề nghị gia đình ông D được thông qua hội đ ng xét duyệt; ngày 5/ 1/2 16 ông D được Ủy ban nh n d n xã T n Hộ C cấp giấy xác nhận huyết tật với dạng huyết tật vận động nghe nói; ức độ huyết tật là đặc biệt nặng. Quy định pháp luật tại điể a hoản 2 Điều 3 Luật Người huyết tật nă 2 1 quy định người huyết tật đặc biệt nặng là người do huyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày. Tuy nhiên ngày 03/10/2016 Ủy ban nhân dân xã Tân Hộ C đã xác nhận tại Ủy ban nhân dân thì ông D xác lập thủ tục là ủy quyền cho anh T đại diện và cung cấp cho T a án cấp sơ thẩ để giải quyết vụ án. Qua xác inh thu thập chứng cứ đối với cán bộ Tư pháp xã Tân Hộ Cơ xác định theo yêu cầu của anh T thì cán bộ Tư pháp xã đến nhà ông D để làm thủ tục ủy quyền. Giấy ủy quyền anh T đã viết sẵn nội dung, cán bộ tư pháp biết ông D đã bị bệnh từ lâu nhưng không đọc lại nội dung giấy ủy quyền cho ông D nghe; không hỏi, nghe được ý iến trình bày của ông D về việc ủy quyền cũng như xác định iể tra năng lực hành vi hằng ngày của ông mà ch lăn tay ông D đe về cơ quan trình ký chứng thực xác nhận ủy quyền. Việc cán bộ Tư pháp lăn dấu vân tay đ ng ý việc ủy quyền của ông D là do biết trước đó ông D đã có ủy quyền cho anh T tha gia giải quyết vụ án tranh chấp đất với ông Đ với anh N.

[8] Do đó xét thấy ông D là bị bệnh từ nă 2 14 hông cử động tay ch n nói chuyện bình thường được là người có hó hăn trong nhận thức làm chủ hành vi cần người giá hộ và thủ tục ông D ủy quyền cho anh T tham dự giải quyết vụ án là hông đúng quy định pháp luật. Sai sót nêu trên do đương sự ới trình bày và cấp phúc thẩ thu thập được chứng cứ ới mà T a án cấp sơ thẩ hông biết được nhưng vi phạ nghiê trọng thủ tục tố tụng à tại phiên t a phúc thẩ hông thể hắc phục được nên cần hủy bản án sơ thẩ .

[9] Qua ph n t ch nêu trên xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của anh T là có căn cứ nên chấp nhận. Không chấp nhận giữ nguyên bản án sơ thẩ theo đề nghị của đại diện Viện iể sát nh n d n t nh Đ ng Tháp. Hội đ ng xét xử phúc thẩ quyết định hủy bản án sơ thẩ và chuyển h sơ vụ án cho T a án cấp sơ thẩ giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

[10] Do hủy bản án sơ thẩ nên Hội đ ng xét xử hông xe xét nội dung háng cáo của các đương sự. Đương sự háng cáo hông phải chịu tiền án ph d n sự phúc thẩ theo quy định tại hoản 3 Điều 148 Bộ luật tố tụng d n sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

- Căn cứ hoản 3 Điều 3 8 và Điều 31 Bộ luật Tố tụng D n sự.

- Hủy bản án d n sự sơ thẩ số: 12/2017/DS-ST ngày: 28/6/2 17 của Tòa án nhân dân huyện H.

- Giao h sơ vụ án cho T a án nh n d n huyện H giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

- Về án ph : anh Nguyễn Văn T được nhận lại 3 . đ tiền tạ ứng án ph d n sự phúc thẩ theo biên lai số 03493 ngày 07/9/2 17 của Chi cục thi hành án d n sự huyện H.

Án ph d n sự sơ thẩ và các chi ph hác (nếu có) sẽ được xác định lại hi vụ án được tiếp tục giải quyết.

Bản án phúc thẩ có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án

Cỡ chữ