vanban.org

Bản án 166/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trương Cao S 20 (hai mươi) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2022; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRương Cao S - phạm tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (điều 203 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/HS-ST
Ngày: 19/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Viết Hùng

Thẩm phán: Ông Trương Công Huấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Xuân Lang

2. Ông Nguyễn Thành Châu

3.Bà Bùi Ngọc Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Nhung – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 137/2023/HSST

ngày 27/02/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:1249

/2023/QĐXXST-HS ngày 23/3/2023 đối với các bị can:

Trương Cao S; Giới tính: nam; sinh năm 1983; tại Thành phố Hồ Chí

Minh; Hộ khẩu thường trú: G T, Phường H, QuậnE, Thành phố Hồ Chí Minh;

chỗ ở: Ư, Phường R, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam;

dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên

môi giới bất động sản; cha: Trương Cao M , sinh năm 1946; mẹ Huỳnh Thị

Xuân H , sinh năm 1956; vợ, con: chưa có; tiền sự: không

Tiền án: Ngày 21/3/2016 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử

08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 23/8/2016 Tòa án nhân

dân cấp xử y án sơ thẩm, ngày 22/01/2020 chấp hành xong hình phạt tù; Bị cáo

bị bắt, tạm giam: 09/6/2022. Có mặt.

Người bào chữa:

Luật sư Lê Nguyễn Quỳnh Thi – Văn phòng luật sư Quỳnh Thi bào chữ

cho bị cáo Trương Cao S. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/6/2022, tại trước nhà số 264 Dương Bá

Trạc, Phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Trương Cao S có biểu hiện nghi vấn, nên mời về làm việc. Tại trụ sở Công an Phường 2, Quận 8, tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước, bên phải của S đang mặc có một túi nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 10,0198 gam loại Methamphetamine và trong cốp xe máy biển số 59T1-444.96 có một túi vải đựng 03 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 101,2417 gam loại Methamphetamine. Trương Cao S khai số ma túy này của Sơn đem đi bán, nên tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Cao S.

Lúc 23 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 tiến

hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Sơn tại nhà số 399/32 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ tại tủ gỗ cạnh gường một hộp giấy màu đen, bên trong có 06 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 19,3364 gam loại Methamphetamine và một gói nylon chứa 07 viên nén màu xanh, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,4852 gam loại Methamphetamine, 06 viên nén màu hồng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 9,1678 gam loại Ketaminne và một gói nylon chứa 49 viên nén, không tìm thấy ma túy và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 13,6269 gam loại Methamphetamine.

Thu trên gường ngủ một hộp giấy hình chữ CHARGE5 bên trong có 08

gói nylon chứa tinh thể không màu, kết luận giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 22,2595 gam loại Methamphetamine, 01 cân tiểu ly. Thu dưới gầm giường: một hộp giấy bên trong có 07 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 30,7199 gam loại Methamphetamine.

Số ma túy thu giữ trong vụ án đã được trưng câu giám định, kết quả thể

hiện tại Kết luận giám định số 3371/KL-KTHS ngày 17/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh (BL:46,47).

Quá trình điều tra, Trương Cao S khai nhận: Thông qua bạn bè Sơn quen

biết với một người tên Hùng (không rõ lai lịch) có bán ma túy nên S đã mua ma túy của H để bán cho người khác kiếm lời. Ngày 08/6/2022 Sơn dùng số điện thoại 0704555509 điện thoại liên lạc với Hùng qua ứng dụng Telegram hỏi mua

50.000.000 đồng tiền ma túy đá và 9.600.000 đồng thuốc lắc giá 120.000

đồng/01 viên thuốc lắc, sau đó H cho người mang ma túy đến giao cho Sơn và S

trả tiền cho người giao rồi đem ma túy về phòng ngủ nhà mình cất giấu, mục

đích để sử dụng và bán với giá 130.000.000 đồng/100 gam ma túy đá, 150.000

đồng/01 viên thuốc lắc. Ngày 09/6/2022 có một người phụ nữ tên H (không rõ

lai lịch) liên lạc với S qua Telegram hỏi mua 100 gam ma túy đá, S đồng ý bán

với giá 30.000.000 đồng thỏa thuận giao dịch tại giao lộ đường Cao Lỗ và Tạ

Quang Bửu, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến chiều tối cùng ngày, Sơn lấy

04 gói ma túy đem đi bán trong đó 03 gói 100 gam S bỏ trong túi vải cất trong

cốp xe biển số 59T1-444.96 để bán cho Hương, còn lại 01 gói khoảng 10 gam

Sơn bỏ vào túi quần phía trước bên phải để nếu có ai hỏi mua thêm thì bán. Sau

đó, Sơn điều khiển xe ra điểm hẹn để bán ma túy, khi đi đến trước nhà số 264

Dương Bá Trạc, Phường 2, Quận 8 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an

Quận 8 kiểm tra bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy như đã nêu trên (BL

24,25,84,85).

Đối với người tên Hùng là người bán ma túy cho S và H người đặt mua

ma túy của S , do Sơn khai không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra

không có cơ sở xác minh làm rõ hành vi để xử lý.

* Về vật chứng: Đã được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số

317/PNK/2022 ngày 08/9/2022 của Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng

PC10; gồm có:

- 03 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 3371 (gói 1, gói 2, gói 3), có chữ

ký ghi tên giám định viên Trần Đình Hải và cán bộ điều tra Lê Quang H , bên

trong là ma túy còn lại sau khi giám định.

- 01 túi vải màu xám.

- 02 điện thoại di động (01 hiệu Iphone; 01 hiệu Samsung).

- 01 xe máy biển số 59T1-444.96, số khung 100CV-117517, số máy M73

IM- 4052300 kết quả giám định số khung, số máy không thay đổi xe do bà

Huỳnh Thị Xuân H là mẹ của Trương Cao S đứng tên chủ sở hữu, chiều ngày

09/6/2023 Trương Cao S mượn xe đi công việc, bà Hương không biết việc Sơn

sử dụng xe vào việc mua bán ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe cho bà Huỳnh

Thị Xuân H (BL số 106).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Trương

Cao S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 84/CTr-VKS TPHCM-P1 ngày 10/02/2023 của Viện

kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố để xét xử đối với bị cáo:

- Trương Cao S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4

Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát thực hành

quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi tóm tắt nội dung vụ án, trình bày lời luận tội khẳng định bản Cáo trạng truy tố để xét xử đối với bị cáo Trương Cao S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có cơ sở pháp luật; ngoài ra, còn phân tích đánh giá về tính chất, mức độ tham gia phạm tội của bị cáo, về các tình tiết định khung, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo. Theo đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251. điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,

xử phạt bị cáo Trương Cao S 20 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy còn lại sau

giám định và xử lý vật chứng là đồ vật, tài sản theo quy định của pháp luật.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo: Luật sư thống nhất với Viện kiểm sát về tội

danh và khung hình phạt truy tố bị cáo, chỉ đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Khi bị bắt, bị cáo tự nguyên khai ra động cơ về việc mua bán ma túy; đề nghị giảm số tiền phạt bổ sung 10 triệu đồng bằng số tiền thu giữ của bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo có điều kiện chấp hành án. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức Viện kiểm sát đã đề nghị.

Bị cáo Trương Cao S thống nhất với ý kiến của Luật sư bào chữa cho mình

nên không tranh luận bổ sung, chỉ đề nghị xem xét hưởng mức án khoan hồng để có cơ hội sớm chấp hành xong bản án và làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh

và hình phạt đã đề nghị xử phạt đối với các bị cáo đã phân tích, đánh giá trong phần luận tội; và Không chấp nhận ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo Trương Cao S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, cũng như ý kiến của luật sư về tình tiết giảm nhẹ và vai trò đồng phạm của bị cáo Trương Cao S vì không phù hợp với quy định của pháp luật và các tình tiết khách quan của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ

Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Cao S khai nhận về hành vi phạm tội do các

bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm

nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được

chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ

vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người phạm

tội quả tang, bản kết luận giám định... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 09/6/2022, tại trước nhf số 264 Dương Bá

Trạc, Phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, S đã điều khiển xe gắn máy

biển số 59T1-444.96 để giao ma túy cho đối tượng tên Hương (không rõ lai lịch)

thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8,

Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra bắt quả tang S có hành vi cất giấu trong túi

quần trước bên phải 10,0198gam loại Methamphetamin và trong cốp xe

101,2417 gam loại Methamphetamine.

Cơ quan điều tra Công an Quận 8 đã tiến hành khám xét chỗ ở của S tại

địa chỉ số 399/32 Nguyễn Đình Chiều, Phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí

Minh thì phát hiện S có hành vi cất giữ 19,3364 gam Methamphetamine và 07

viên nén màu xanh có kết quả giám định là 2,4852 gam loại Methamphetamine;

06 viên nén màu hồng, có kết quả giám định là 9,1678 gam loại Ketamine và 49

viên nén có kết luận giám định là 13,6269 gam loại Methamphetamine; 08 gói

nylon chứa 22,2595 gam loại Methamphetamine; 07 gói nylon chứa 30,7199

gam loại Methamphetamine

Tổng khối lượng ma túy bị cáo cất giấu là: 199,6894 gam loại

Methamphetamine, được xác định với mục đích bị cáo cất giấu nhằm mục đích

để bán.

Với hành vi nêu trên, và khối lượng ma túy thu giữ Trương Cao S đã

phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy túy” thuộc trường hợp

““Methamphetamine có khối lượng từ100 gam trở lên” theo quy định tại điểm b

khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm

đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên

nhân làm gia tăng các loại tội phạm về ma túy và tệ nạn xã hội khác, gây mất

trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và

phòng ngừa chung.

Bị cáo từng bị kết án về tội nghiêm trọng, chưa được xóa án tích, nay tiếp

tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp“tái phạm nguy hiểm” là

tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

Khi xem xét hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét tình tiết giảm nhẹ:

bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều

51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định của

pháp luật.

Ngoài ra, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo,

buộc bị cáo nộp số tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để

nộp ngân sách nhà nước.

+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét:

Đối với vật chứng là ma túy còn lại sau giám định, là chất độc hại cấm

tuyệt đối sử dụng; các đồ vật là công cụ phạm tội, dụng cụ dùng để phân chia, cất giấu ma túy, vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ. Cụ thể như sau:

- Tịch thu, tiêu hủy: 03 (ba) gói ma túy còn lại sau giám định đã được niêm

phong, ghi vụ số 3371 (gói 1, 2, 3), có chữ ký của Trương Cao S, giám định viên Trần Đình H và điều tra viên Lê Quang Hưng; 01 (một) túi vải màu xám, 01 (một) cân điện tử.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone (thực nhận 01 điện thoại

di động kiểu dáng Iphone, màu xám, không Imei khay sim, không sim, không kiểm tra imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) bị cáo dùng liên lạc mua ba túy nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 5.000.000 đồng thu giữ của bị cáo, không liên quan đến

hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để thi hành án.

(Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/164 ngày 23/02/2023 của

Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy nộp tiền ngày 22/8/2022 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam)

+Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, buộc bị

cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52

điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Trương Cao S 20 (hai mươi) năm tù, về tội “Mua bán

trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2022;

- Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân

sách nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015 ;

+ Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) gói ma túy còn lại sau giám định đã được niêm

phong, ghi vụ số 3371 (gói 1, 2, 3), có chữ ký của Trương Cao S, giám định viên

Trần Đình H và điều tra viên Lê Quang H; 01 (một) túi vải màu xám, 01 (một)

cân điện tử.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu

Iphone (thực nhận 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu xám, không

Imei khay sim, không sim, không kiểm tra imei do không có nguồn điện, không

kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động hiệu

Samsung (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong)

- Trả lại cho bị cáo Trương Cao S số tiền 5.000.000 đồng nhưng tạm giữ

để thi hành án.

(Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/164 ngày 23/02/2023 của

Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy nộp tiền ngày 22/8/2022

của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam)

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí

Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn)

đồng. Nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ