- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Chí H cùng đồng phạm - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc K.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 134 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 166/2025/HS-PT Ngày: 26/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Hồng Mai;
Bà Phạm Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hương, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích D - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2025/TLPT-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo Phan Chí H và Trần Quốc K do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh).
Các bị cáo kháng cáo:
1. Phan Chí H, sinh năm 2006 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Chí T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kiều O; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
2. Trần Quốc K, sinh ngày 30-6-2006; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Đỗ Thị Diễm L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Ngoài ra, còn có các bị và người tham gia tố tụng khác, Toà án không triệu tập.
- Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị không triệu tập: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 13/8/2024, Nguyễn Đăng K1 (K3) và Đỗ Minh D1 đến quán B trên đường N thuộc Khu phố F, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh chơi thì xảy ra xô xát với 02 thanh niên là khách của quán và bị đánh bằng tay nhưng không gây thương tích, sau đó bỏ đi. Do bực tức vì bị đánh và muốn đánh trả thù nên, K1 A và D1 đã rủ nhóm bạn gồm: Phan Chí H, Nguyễn Đăng K1 (K4), Nguyễn Vũ Hoàng A, Thái Bình P, Lê Anh T2, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Nhật Q, Trần Trung N, sinh ngày 05/01/2009, nơi cư trú: Số C đường N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Huỳnh K2, sinh ngày 10/02/2009, nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh và Nguyễn Thanh S, sinh ngày 04/02/2009, nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Khoảng 21 giờ cùng ngày cả nhóm tổng cộng 12 người tập trung tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh thống nhất chuẩn bị hung khí và đi tìm 02 thanh niên đã đánh K1 A và D1 để đánh trả thù, trong đó K1 B chuẩn bị 01 cây liềm, có tổng chiều dài 172cm (cán bằng gỗ dài 140cm, phần lưỡi liềm dài 30cm, rộng 5cm), N chuẩn bị 01 cây sắt tròn dài 47 cm, đường kính 2,5cm.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, H1 điều khiển xe mô tô biển số 70H1-143.57 chở Q, H điều khiển xe mô tô biển số 70P1-2312 chở K2, T2 điều khiển xe mô tô biển số 59H1-307.57 chở Khoa B, Khoa B cầm theo 01 cây đã chuẩn bị sẵn, Hoàng A điều khiển xe mô tô biển số 70B1-793.25 chở N, N cầm theo cây sắt tròn dài 47cm, Khoa A điều khiển xe mô tô biển số 70KA-004.44 chở D1, S điều khiển xe mô tô biển số 70D1-760.76 chở P. Cả nhóm điều khiển xe mô tô và cầm theo hung khí đi đến quán B nhưng không gặp được 02 thanh niên cần tìm, cả nhóm tiếp tục cầm theo hung khí đi các tuyến đường trên địa bàn thành phố T nhằm mục đích tìm 02 thanh niên nói trên để đánh trả thù nhưng không tìm được. Do đã tìm nhiều tuyến đường nhưng không được và hung khí mang theo cồng kềnh sợ bị Công an phát hiện nên T2 chở Khoa B về nhà, K1 A và D1 đi theo cả nhóm không kịp bị lạc đường nên cả 02 cũng về nhà. Cả nhóm còn lại 08 người tiếp tục đi tìm trên nhiều tuyến đường khác nhau, khi đến khu vực siêu thị C, K2 nhặt 01 khúc gỗ dài 70cm làm hung khí, cả nhóm đi đến Công viên cây xanh trên đường C thì thấy 02 thanh niên giống người đã đánh Khoa A và D1 nên dừng lại, K2 cầm khúc gỗ, N cầm cây sắt đuổi đánh 02 người này nhưng không được, sau đó N và Hoàng A đi về nhà.
Nhóm còn lại 06 người tiếp tục cầm theo hung khí đi tìm trên nhiều tuyến đường trên địa bàn thành phố T, khi đến đoạn giao nhau giữa đường C và đường L thuộc Phường C, thành phố T thì gặp Trần Trọng N1, sinh ngày 22/9/2008, nơi cư trú: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh đang điều khiển xe mô tô biển số 70GA-063.28 chở Trần Quốc K theo chiều ngược lại, K2 dùng cử chỉ giơ ngón tay giữa ra tín hiệu thách thức chỉ vào K và N1, N1 quay xe lại thì bị K2 cầm khúc gỗ định đánh, N1 lấy trong túi áo ra 01 cây dao bấm dài 20cm, K2 lên xe mô tô cùng với H điều khiển xe tốc độ cao bỏ chạy, N1 cầm theo hung khí điều khiển xe chở K với tốc độ cao đuổi theo nhiều tuyến đường thuộc địa bàn thành phố T, khi đến trước nhà số B đường N thuộc Phường B, thành phố T, do đông người và xe qua lại nên H và K2 bỏ xe lại chạy bộ, thấy vậy N1 cầm theo dao bấm, K cầm theo 01 nón bảo hiểm xuống xe đuổi theo nhưng không kịp, N1 và K quay lại chỗ xe mô tô biển số 70P1-2312 của H và K2 bỏ lại, N1 dùng dao bấm đâm vào bánh xe phía trước nhưng không gây hư hỏng, sau đó bỏ đi. Nhóm 04 người còn lại gồm S, P, H1 và Q đi về nhà không tham gia rượt đuổi.
Hành vi của H, K2, N1, K cầm hung khí nguy hiểm, điều khiển xe mô tô với tốc độ cao trên nhiều tuyến đường, sau đó bỏ xe, cầm hung khí rượt đuổi nhau, làm người dân xung quanh hoang mang lo sợ, gây mất an ninh trật tự, an toàn toàn giao thông trên các tuyến đường khác nhau. Ngày 14/8/2024, Ủy ban nhân dân Phường B1, thành phố T có kiến nghị yêu cầu xử lý nhằm đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Phan Chí H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Quốc K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Chí H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Chí H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung của bị cáo Phan Chí H phải chấp hành là 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Quốc K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 31 tháng 3 năm 2025, bị cáo Trần Quốc K có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo; bị cáo Phan Chí H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, không oan. Các bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo và xin giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về hình thức: kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung:
- Xét kháng cáo của bị cáo Phan Chí H xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị được hưởng án treo nhận thấy:
Trong quá trình xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trước khi thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 BLHS, bị cáo chưa thực hiện hành vi phạm tội nào khác nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS là thiếu sót. Do đó, cần áp dụng thêm tình tiết theo điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”.
Đối với tội “Gây rối trật tự công cộng”: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 1 Điều 52 BLHS. Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng hành vi phạm tội. Bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo.
- Xét kháng cáo của bị cáo Trần Quốc K đề nghị hưởng án treo nhận thấy:
Hành vi của Trần Quốc K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 1 Điều 52 BLHS. Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ mức độ, hành vi của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng hành vi phạm tội. Bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định. Do đó, không chấp kháng cáo hưởng án treo của bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các ý kiến, quan điểm nêu trên của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh và căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 BLTTHS:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phan Chí H, sửa bản án sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo H 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và giữ nguyên mức án về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc K, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Các bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H2; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không cung cấp tình tiết mới.
Các bị cáo H kháng cáo trong thời hạn pháp luật quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Tòa án nhân tỉnh Long An thụ lý xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Hành vi của các bị cáo thể hiện: Do có mâu thuẫn trước đóNguyễn Đăng Khoa (Khoa A) và Đỗ Minh D1 gọi điện thoại báo cho nhóm bạn gồm: Phan Chí H, Nguyễn Đăng K1 (K4), Nguyễn Vũ Hoàng A, Thái Bình P, Lê Anh T2, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Nhật Q, Trần Trung N, Trần Huỳnh K2 và Nguyễn Thanh S chuẩn bị hung khí đi tìm hai thanh niên đã đánh K1 A và D1 để trả thù thì cả nhóm đồng ý. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/8/2024 cả nhóm cầm theo hung khí đi tìm trên nhiều tuyến đường thuộc địa bàn thành phố T nhưng không tìm được. Khi nhóm còn lại 06 người gồm: H, K2, S, P, H1 và Q cầm theo hung khí đến đoạn giao nhau giữa đường C và đường L thuộc Phường C, thành phố T thì gặp N1 và Trần Quốc K 02 bên dùng hung khí nguy hiểm và có hành động khiêu khích thách thức nhau. H, K2, N1, K cầm theo hung khí rượt đuổi nhau trên nhiều tuyến đường đã gây rối trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo H và K về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và bị cáo H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo H, K, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện các tình tiết của vụ án, áp dụng đầy đủ các tình tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội có tính chất côn đồ và xử phạt bị cáo H 02 năm 06 tháng tù tội “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo K 02 năm 06 tháng tù tội “Gây rối trật tự công cộng” là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đối với bị cáo H trước khi thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 BLHS, bị cáo chưa thực hiện hành vi phạm tội nào khác nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS là thiếu sót. Do đó, cần áp dụng thêm tình tiết theo điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, sửa một phần bản án sơ thẩm.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phan Chí H, sửa bản án sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo H 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và giữ nguyên mức án về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc K, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo K phải chịu do yêu cầu cầu kháng cáo không được chấp nhận. Bị cáo H không phải chịu án phí do kháng cáo được chấp nhận một phần.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc K.
Cấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phan Chí H.
Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
1, Tuyên bố bị cáo Phan Chí H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Quốc K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Chí H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm d, khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Chí H 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung của bị cáo Phan Chí H phải chấp hành là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Quốc K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Kiệt cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), bị cáo H không phải chịu án phí.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Vụ 1 – TANDTC; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Phòng KTNV TAND tỉnh Tây Ninh; - Phòng PV06 CA tỉnh Tây Ninh; - TAND khu vực 10 - Tây Ninh; - Phòng THADS khu vực 10 -Tây Ninh; - VKSND khu vực 10 -Tây Ninh; - VPĐT Công an tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Tòa Hình sự; - Lưu HS./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Thu Trang |