vanban.org

Bản án 166/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 21/11/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàn P phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 5 năm 2024. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, ph…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàn P phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 304 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 166/2024/HS-ST
Ngày: 21-11- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Lê Thị Xuân Đào.

2. Bà: Trương Thị Kim Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu Trung– Kiểm sát viên;

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 166/2024/TLST-HS, ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với:

1. Bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hoàn P, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam,

Ngày, tháng, năm sinh: 20/7/2002, nơi sinh: Tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn G, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 8/12; con ông: Phạm K, sinh năm 1970 (sống) và bà Trịnh Thị T, sinh năm 1970 (sống). Anh, chị, em ruột có 03 người: lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1997. Vợ, con: Không;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Phạm Hoàn P đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2024 tại Trại giam Công an tỉnh L (có mặt).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Nguyễn Đức V, sinh năm 2000; địa chỉ: Số C, T, phường T, Quận A, Tp . (vắng mặt).

3. Người chứng kiến: Ông Trần Trung H, Nguyễn Tấn P1, Trịnh Hữu T1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Phạm Hoàn P bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Ngày 07/5/2024, Phạm Hoàn P, sinh năm 2002, được một người bạn tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại qua ứng dụng zalo nhờ đến quán K3 thuộc khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để nói chuyện với chủ quán về việc C bị nhân viên bảo vệ đánh. C hứa cho P 10.000.000 đồng và nói sẽ gửi súng cho P phòng thân khi đến quán K3.

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 09/5/2024, P cùng với Trần Nguyễn Đức V (tên thường gọi là Tạ Đình P2) và bạn gái của P tên An N uống rượu bia tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Tại đây, P sử dụng zalo gọi cho C để nói P chuẩn bị xuống quán K3 và kêu C gửi súng cho P để phòng thân (V và An N không biết). Sau đó, P rủ V đi đến quán K3 để uống bia thì V đồng ý và V điện thoại cho Hoài P3 (không rõ nhân thân, lai lịch) để cùng đi đến quán karaoke N1.

Khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, Hoài P3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario màu trắng (chưa rõ biển kiểm soát) chở V và P đến quán K3. P đi vào gặp nhân viên giữ xe tên Nguyễn Tấn P1 yêu cầu chủ quán ra nói chuyện. Lúc này, có một người đàn ông chưa rõ nhân thân, lai lịch mặc trang phục của dịch vụ giao hàng “BE”, điều khiển xe mô tô hiệu Satria, chưa rõ biển kiểm soát đến chỗ P đang đứng và đưa cho P 01 khẩu súng ngắn dạng súng rulo, màu đen. P nói chuyện với Nguyễn Tấn P1 và chủ quán là Trịnh Hữu T1 thì xảy ra mâu thuẫn, P lùi lại phía sau khoảng 10 mét và dùng tay phải cầm súng giơ lên trời bắn 01 phát. Sau đó, P tiếp tục lùi về phía sau khoảng 10 mét và giơ súng lên trời bóp cò 03 lần, trong đó, lần đầu đạn nổ; lần hai, lần ba đạn không nổ và 02 viên đạn bật ra khỏi ổ xoay, rớt xuống đất. Nguyễn Tấn P1 cùng Trần Trung H, Lê Đăng K1, Lê Hoàng V1, Nguyễn Chí K2, Nguyễn Phước Gia H1 và khoảng 03 người nam thanh niên khác xông vào dùng tay đánh trúng vào vùng mặt và tay phải của P làm khẩu súng rớt xuống đất. H1 dùng 01 con dao tự chế, dài khoảng 50 mét chém 01 cái trúng vào chân phải của P. Lúc này, V và P3 đã bỏ về. P1, H, Đăng K1 yêu cầu P đi lại căn nhà không biển hiệu trước cửa quán K3 để chờ Công an đến giải quyết. Đăng Khoa thấy khẩu súng của P bị rớt xuống đất nên Đăng K1 nhặt khẩu súng và để vào vị trí P đang ngồi ở căn nhà đối diện quán K3. Khoảng 10 phút sau, lực lượng Công an thị trấn Đ đến hiện trường và mời những người liên quan về trụ sở làm việc. P được người dân đưa đi đến cơ sở y tế băng bó vết thương, ngày 11/5/2024, P đến Công an thị trấn Đ đầu thú.

Tại Kết luận giám định số 319/KL-KTHS ngày 20/5/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh L kết luận: 01 thân súng ngắn, ổ xoay, màu đen, có ký hiệu “MADE IN CHINA XYL230526460”, thân súng dài: 08cm, không có nòng súng, ổ đạn xoay có 06 lỗ - đường kính trong lỗ đạn: 06mm, có kim hỏa, búa đập, tay cầm ốp nhựa màu nâu (ký hiệu A). Bên trong ổ tiếp đạn có 02 (hai) vỏ đạn kim loại hình trụ, màu vàng, cỡ đạn (5,6 x 15,5)mm, tình trạng đít đạn có dấu vết kim hỏa (ký hiệu A1, A2) khi gắn thêm 01 (một) vật màu đen ký hiệu “357 MAG” dài: 3,6 cm, đường kính trong: 12mm (ký hiệu A5) là nòng súng (ký hiệu A5) thành khẩu súng hoàn chỉnh. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng thuộc loại súng ngắn ổ xoay, chế tạo thủ công bắn loại đạn, cỡ đạn (5,6 x 15,5)mm (ký hiệu A3, A4). Hiện tại súng này còn bắn được, trúng người có thể gây thương tích hoặc tử vong; 02 viên đạn kim loại, hình trụ màu vàng, đầu đạn kim loại màu vàng, cỡ đạn (5,6 x 15,5)mm (ký hiệu A3, A4). Đạn gửi giám định như trên không phải là vũ khí quân dụng, là loại đạn thể thao, cỡ đạn (5,6 x 15,5)mm, đạn sử dụng cho khẩu súng (ký hiệu A) hoặc súng có cỡ nòng tương tự.

Tại cáo trạng số 84/CT-VKS-CR ngày 23/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Phạm Hoàn P về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Hoàn P phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà các bị cáo gây ra; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Promax màu xám, số IMEI 1: 355458122189369, số IMEI 2: 355458122220297, số sim: 0966481617 (tình trạng đã qua sử dụng) là phương tiện bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với các vật chứng là vũ khí quân dụng, vật liệu nổ đề nghị giao cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định.

- Đối với: 01 áo thun ngắn tay màu đen, 01 quần ngắn màu xanh, đỏ, vàng , tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Bị cáo Phạm Hoàn P thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã truy tố, không đưa ra chứng cứ nào để minh oan, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Phạm Hoàn P thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và qua quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo

T2 phiên tòa bị cáo Phạm Hoàn P thừa nhận, khoảng 23 giờ 40 phút ngày 09/5/2024, P đến quán K3 tại khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để giải quyết mâu thuẫn giữa người bạn tên C với chủ quán. Tại đây, P được một người đàn ông giao một khẩu súng rulo màu đen là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng và 04 viên đạn. P đã sử dụng khẩu súng này bắn lên trời 04 phát nhưng chỉ nổ 02 phát. P bị nhân viên quán K3 đánh gây thương tích và thu giữ khẩu súng trên.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định độc quyền của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng và vật liệu nổ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Việc Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là đúng người đúng tội đúng pháp luật. Do vậy, cần có mức án tương xứng để răn đe giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên khi xét mức án cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên mức án phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đến công an thị trấn Đ, huyện Đ để đầu thú. Nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Do vậy cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự.

. Về xử lý vật chứng:

- Cần tịch thu các vật chứng là vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, giao cho Phòng Kỹ thuật - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh L xử lý theo quy định.

- Đối với: 01 áo thun ngắn tay màu đen. 01 quần ngắn màu xanh, đỏ, vàng bị cáo không có nhu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Promax màu xám, số IMEI 1: 355458122189369, số IMEI 2: 355458122220297, số sim: 0966481617 (tình trạng đã qua sử dụng) là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước. Là phù hợp với Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Hành vi của đối tượng C gửi súng cho P, người đàn ông trực tiếp giao súng cho P có dấu hiệu của tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” nên Cơ quan An ninh điều tra đã tách hành vi, tài liệu theo Quyết định số 250 ngày 07/10/2024 để tiếp tục xác minh, làm rõ.

Đối với Trần Nguyễn Đức V và người tên Hoài P3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario màu trắng (chưa rõ biển kiểm soát) chở P đến quán K3: Quá trình điều tra xác định, V không biết việc P đến quán để giải quyết mâu thuẫn, P3 chưa làm việc được nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có cơ sở.

Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Hoàn P yêu cầu xử lý hình sự đối với những người gây ra thương tích cho P, Công an huyện Đ đã thụ lý, giải quyết yêu cầu của P theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo Phạm Hoàn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàn P phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 5 năm 2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu và giao cho Phòng Kỹ thuật thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh L xử lý theo quy định đối với các vật chứng là vũ khí quân dụng, vật liệu nổ gồm:

- 01 thân súng ngắn, ổ xoay, màu đen, có ký hiệu “MADE IN CHINA XYL230526460”, thân súng dài 08cm, không có nòng súng, ổ đạn xoay có 06 lỗ - đường kính trong lỗ đạn 06mm, có kim hỏa, búa đập, tay cầm ốp nhựa màu nâu.

- 01 vật màu đen (nòng súng), ký hiệu “357MAG”, dài 3,6 cm, đường kính trong 12mm.

- 02 vỏ đạn kim loại hình trụ, màu vàng, cỡ đạn (5,6x15,5)mm, đít đạn có dấu vết kim hỏa.

- 02 vỏ đạn kim loại, cỡ đạn (5,6x15,5)mm.

Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu đen, 01 quần ngắn màu xanh, đỏ, vàng bị cáo không có nhu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Promax màu xám, số IMEI 1: 355458122189369, số IMEI 2: 355458122220297, số sim: 0966481617 (tình trạng đã qua sử dụng).

Những vật chứng trên hiện do Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L đang quản lý, theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 20/5/2024 của Công an huyện Đ.

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Hoàn P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để xét xử theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ