- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị H xin ly hôn anh H1"
- Tòa quyết gì? 1 - Xử ly hôn giữa chị Cao Thị Khánh H và anh Hoàng Văn H1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 166/2024/HNGĐ - ST Ngày: 27 - 12 - 2024. V/v ly hôn giữa chị H và anh H |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Chủng.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Vui.
2. Ông Lê Đức Chạc.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Gấm – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2024/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2024/QĐST - HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Cao Thị Khánh H, sinh năm 1998; Địa chỉ: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
+ Bị đơn: Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai của chị Cao Thị Khánh H trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa thể hiện: Chị kết hôn với anh Hoàng Văn H1 vào tháng 01/2016 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, anh H1 chơi bời dẫn đến nợ nần. Mặc dù chị cùng gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H1 vẫn không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến tháng 01/2022 thì vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh H1 không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn H1.
Về con chung: Giữa chị và anh H1 có hai con chung là cháu Hoàng Thị Thu H2, sinh ngày 11/9/2016 và cháu Hoàng Trà M, sinh ngày 26/9/2019. Hiện cháu H2 và cháu M đang do mẹ đẻ anh H1 chăm sóc nuôi dưỡng. Trong quá trình làm đơn khởi kiện và giải quyết vụ án chị có quan điểm chị để anh H1 trực tiếp nuôi cháu H2 và cháu M và chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H1 mỗi con trên một tháng là 1.500.000 đồng kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa hôm nay chị H thay đổi yêu cầu khởi kiện chị xin nhận trực tiếp nuôi hai con và không yêu cầu anh H1 phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay anh Hoàng Văn H1 vắng mặt. Lời khai của bà Đỗ Thị N (là mẹ đẻ của anh Hoàng Văn H1) tại các buổi làm việc với Tòa án và tại phiên tòa trình bày đúng như lời khai của chị Cao Thị Khánh H về quá trình kết hôn chung sống giữa chị H và anh H1. Sau khi kết hôn vợ chồng chị H anh H1 chung sống hoà thuận hạnh phúc, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng về quan điểm không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến tháng 01/2022 thì vợ chồng chị H anh H1 sống ly thân từ đó cho đến nay. Do anh H1 không có mặt để nhận trực tiếp những văn bản tố tụng của của Tòa án nên gia đình đã nhận thay và đã thông báo cho anh H1 đầy đủ. Mặt khác do anh H1 phải đi làm không thể đến tòa án để làm việc được anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh và anh có nhờ gia đình chuyển quan điểm của anh về việc giải quyết vụ án như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Khánh H xin ly hôn chị thì anh nhất trí ly hôn.
Về con chung giữa: Giữa anh và chị H có hai con chung là cháu Hoàng Thị Thu H2, sinh ngày 11/9/2016 và cháu Hoàng Trà M, sinh ngày 26/9/2019. Hiện cháu H2 và cháu M đang do anh chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn anh xin nhận trực tiếp nuôi cháu H2 và cháu M còn chị H cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng anh thì anh nhất trí.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay bà Đỗ Thị N trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh H1. Từ khi vợ chồng chị H anh H1 sống ly thân thì con chung là cháu Hoàng Thị Thu H2, sinh ngày 11/9/2016 và cháu Hoàng Trà M, sinh ngày 26/9/2019 do bà chăm sóc nuôi dưỡng. Hiện anh H1 đang đi làm ăn xa thường xuyên, ít có mặt ở nhà và bà hiện tuổi đã cao nên bà có nguyện vọng để chị H trực tiếp nuôi cháu Hoàng Thị Thu H2, sinh ngày 11/9/2016 và cháu Hoàng Trà M, sinh ngày 26/9/2019.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q: Xử ly hôn giữa chị Cao Thị Khánh H và anh Hoàng Văn H1; Về con chung: Giao cháu Hoàng Thị Thu H2, sinh ngày 11/9/2016 và cháu Hoàng Trà M, sinh ngày 26/9/2019 cho chị Cao Thị Khánh H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H1 không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H; Về án phí: đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Cao Thị Khánh H và anh Hoàng Văn H1 đều cư trú tại huyện N. Nay chị Cao Thị Khánh H xin ly hôn anh Hoàng Văn H1 thì Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay anh Hoàng Văn H1 vắng mặt nhưng anh H1 nhưng anh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H1 là phù hợp với khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Cao Thị Khánh H và anh Hoàng Văn H1 vào tháng 01 năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chống bất đồng về quan điểm không hiểu nhau. Đến tháng 02/2022 thì vợ chồng chị H anh H1 sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Phía anh H1 nhất trí ly hôn. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị xử ly hôn giữa chị H và anh H1.
Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị H xin ly hôn anh H1 nên chấp nhận là phù hợp.
Về con chung: Chị Cao Thị Khánh H và anh Hoàng Văn H1 đều thống nhất xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Hoàng Thị Thu H2, sinh ngày 11/9/2016 và cháu Hoàng Trà M, sinh ngày 26/9/2019. Hiện cháu cháu H2 và cháu M đang do mẹ đẻ anh H1 chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị H xin nhận trực tiếp nuôi hai con và không yêu cầu anh H1 phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Phía anh H1 xin nhận trực tiếp nuôi cháu H2 và cháu M còn chị H cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng anh thì anh nhất trí.
Hội đồng xét xử thấy: Nguyện vọng của chị H và anh H1 đều chính đáng nhưng anh H1 đang đi làm ăn xa không có mặt ở nhà thường xuyên. Mặt khác cháu H2 và cháu M là con gái cần sự chăm sóc của mẹ. Vì vậy, giào cháu H2 và cháu M cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh H1 phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận là phù hơp.
Về tài sản chung vợ chồng: Chị Cao Thị Khánh H và anh Hoàng Văn H1 đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm chị Cao Thị Khánh H phải nộp theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1 - Xử ly hôn giữa chị Cao Thị Khánh H và anh Hoàng Văn H1.
2 - Về con chung: Giao cháu Hoàng Thị Thu H2, sinh ngày 11/9/2016 và cháu Hoàng Trà M, sinh ngày 26/9/2019 cho chị Cao Thị Khánh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Hoàng Văn H1 không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.
3 - Án phí dân sự sơ thẩm chị Cao Thị Khánh H phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số: 0001487 ngày 14/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân Tỉnh. - VKSND huyện. - THADS huyện. - UBND xã Nghĩa Hải. - Các đương sự. - Lưu án văn | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Văn Chủng |