- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trung Kiên - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Phạm Trung K (Tên gọi khác là Ken) 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 7 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Z TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 166/2023/HS-ST Ngày 13 tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Z, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hạng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Thuận
Ông Trần Ngọc Tây
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Z
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2023, Toà án nhân dân thành phố Z, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 133/HSST ngày 7 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Trung K (Tên gọi khác là Ken), sinh năm 1998, tại Nam Đ; Nơi ĐKNKTT: Thôn Kênh Đào, xã Minh Thuận, huyện V B, tỉnh Nam Định; Chỗ ở hiện nay: Căn hộ B7
- 02 Tòa nhà B chung cư PH, số 11 Võ Thị Sáu, phường VT, thành phố Z. nghề nghiệp: không. Trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quốc Đ và bà Trần Thị T. Tiền sự: không; Tiền án:
- Bản án số 248/HSST ngày 22/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 12/4/2019.
- Bản án số 27/HSST ngày 02/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 24/5/2022.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 7 năm 2022 cho đến nay.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: 366 - 6 CT5 Vĩnh Điềm Trung, xã VH, thành phố X.
* Người làm chứng:
1. Anh Trương Duy L, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn Phong Ấp, xã Ninh Bình, thị xã NH, tỉnh Khánh Hòa
2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn Đắc Lộc, xã VP, thành phố Z.
3. Anh Nguyễn Công H, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Thôn Như Xuân, xã V P, thành phố Z.
(Tất cả người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 17/7/2022 trong khi tuần tra tại khu vực trước nhà nghỉ Xuân Dục số 112 Nguyễn Xiển, xã VP, thành phố Z; Tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Z phối hợp với Công an xã VP thành phố Z phát hiện Phạm Trung K đang ngồi trên xe máy nhãn hiệu Yamaha mang biển kiểm soát 79N2-70261 có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên yêu cầu kiểm tra giấy tờ tùy thân. Quá trình điều tra, Phạm Trung K tự lấy trong người giao nộp cho tổ công tác 01 hộp nhựa màu đen bên trong có: 01 ịch nylong màu trắng có khóa hằn miệng kích thước (4x7,5) cm và 7 bịch nylon màu trắng được hàn kín kích thước (2x2) cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu A); nhiều bịch nylon có khóa hằn miệng kích thước (4x7,5)cm không chứa gì. K khai nhận số chất tinh thể màu trắng giao nộp là ma túy “đá” của Kiên, đồng thời K giao nộp cho tổ công tác số tiền 200.000đồng là K vừa bán ma túy cho Trương Duy L có được.
Quá trình điều tra trước đó: Khoảng 8 giờ 00 phút cùng ngày, Phạm Trung K được một người phụ nữ tên Nhi (chưa rõ lai lịch) rủ đến nhà nghỉ Xuân Dục số 112 Nguyễn Xiển, xã VP, thành phố Z chơi, khi đến nơi K vào phòng số 9 thì lúc này trong phòng có Trương Duy L, một người nam và hai người nữ (chưa rõ lai lịch) ngồi nói chuyện một lúc thì L hỏi K mua ma túy. K đồng ý bán cho L 1 bịch ma túy “đá” với giá 200.000đồng. sau khi bán ma túy cho L xong. Kiên ra về, khi đến trước khu vực Nhà nghỉ Xuân Dục thì bị tổ công tác kiểm tra, phát hiện.
Tại bản kết luận giám định số 294/GĐ-GT/2022/KL-KTHS ngày 22/7/2022 của Phòng kỹ thuật – Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Tinh thể màu trắng trong các gói nylon của mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,9780gam là loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 72/CT-VKSNT ngày 17 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z truy tố Phạm Trung K về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận số ma túy mà cơ quan điều tra thu giữ là của bị cáo, mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo không thừa nhận có hành vi bán 1 tép ma túy cho Trương Duy L tại nhà nghỉ Xuân Dục. Nên bị cáo chỉ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Z giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Mặc dù tại phiên tòa bị cáo Phạm Trung K thay đổi lời khai không thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm để bán cho người khác nhưng theo lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được Hội đồng xét xử thẩm vấn công khai nên đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Tại phiên tòa bị cáo không thành khẩn khai báo nên đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Kiên. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Phạm Trung K từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù; Vật chứng vụ án, trách nhiệm dân sự; án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trung K cho rằng hành vi của bị cáo chỉ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà không phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bởi lẽ bị cáo tàng trữ số ma túy mục đích để sử dụng chứ không phải để bán kiếm lời. Hội đồng xét xử nhận thấy: Mặc dù tại phiên tòa bị cáo thay đổi lời khai cho rằng không bán 01 tép ma túy cho Trương Duy L với giá 200.000đồng nhưng lại thừa nhận chữ viết và chữ ký tên tại phần ghi ý kiến của biên bản phạm tội quả tang, các bản tự khai là do chính bị cáo tự nguyện viết với nội dung: “Tôi có nhận 200.000đồng của nam thanh niên tên Trương Duy L...Sau đó, tôi không nói gì bỏ bịch ma túy đá lên bàn và đứng dậy ra đi khỏi phòng” phù hợp với biên bản nhận dạng mà Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành cho bị cáo K nhận dạng đối tượng L là người đã mua ma túy. Đồng thời, các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra hoàn toàn phù hợp với lời khai của Trương Duy L, lời khai người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Phạm Trung K đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho đối tượng Trương Duy L; việc bị cáo Kthay đổi lời khai tại các phiên tòa chỉ nhằm chối việc phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “mua bán trái phép chất ma túy” nặng hơn mà thôi. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 17/7/2022 tại trước nhà nghỉ Xuân Dục, địa chỉ số 112 đường Nguyễn Xiển, xã VP, thành phố Z, Phạm Trung K đã có hành vi tàng trữ 2,9780gam (Hai phẩy chín bảy tám mươi gam) ma túy loại Methamphetamine với mục đích bán cho người khác và sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra xác định được: Trước đó, vào khoảng 9 giờ 15 phút cùng ngày, tại phòng 09 của nhà nghỉ Xuân Dục, Phạm Trung K đã bán trái phép chất ma túy cho Trương Duy L với số tiền 200.000đồng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 72/CT-VKSNT-HS ngày 17/2/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Phạm Trung K là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính tiết định khung hình phạt: Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do lỗi cố ý nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn của xã hội, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo quanh co chối tội, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Xét vai trò tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: cần phải xử lý thật nghiêm khắc, áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn và hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với nguồn gốc ma túy mà bị cáo đã mua của một đối tượng tên “Sầm” và người phụ nữ tên “Nhi”, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Z đang tiếp tục xác minh làm rõ nhân thân của đối tượng nêu trên, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Nha Trang đã thu giữ:
- 01 phong bì giấy được dán kín, một mặt ghi “Vụ 294/GĐ-GT/2022; Mẫu vật còn lại sau giám định: Tinh thể màu trắng trong mẫu A có khối lượng: 2,7518g, một mặt có các chữ ký niêm phong và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa” là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu REDMI, vỏ màu đỏ, không rõ số thuê bao (bị nứt màn hình, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong) là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
- Nhiều bịch nylong có khóa hằn miệng kích thước (4x7,5)cm bên trong không chứa gì là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 200.000đồng là tài sản do phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 2 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Z và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Z; Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước ngày 09 tháng 2 năm 2023).
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Bị cáo Phạm Trung K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm q khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Trung Kiên.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Trung K (Tên gọi khác là Ken) 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 7 năm 2022.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy được dán kín, một mặt ghi “Vụ 294/GĐ-GT/2022; Mẫu vật còn lại sau giám định: Tinh thể màu trắng trong mẫu A có khối lượng: 2,7518g, một mặt có các chữ ký niêm phong và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa”; Nhiều bịch nylong có khóa hằn miệng kích thước (4x7,5)cm bên trong không chứa gì.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 200.000đồng. (Hai trăm ngàn đồng).
- Trả lại cho bị cáo : 01 điện thoại di động hiệu REDMI, vỏ màu đỏ, không rõ số thuê bao (bị nứt màn hình, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 2 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Z và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Z; Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước ngày 09 tháng 2 năm 2023).
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Trung K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo. - Đương sự; - TAND, VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở tư pháp Khánh Hòa; - VKSND thành phố Z; - Công an TP. Z; - Thi hành án dân sự Z; - Lưu: Án văn + Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ THỊ HẠNG |