- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh P - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 166/2023/HS-PT Ngày : 19-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Hải. Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn; Ông Nguyễn Văn Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hằng là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Hồ Kim Y - Kiểm sát viên. Ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 137/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thanh P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2022/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo bị kháng cáo:
NGUYỄN THANH P1, sinh năm 1993 tại tỉnh Kiên Giang; nơi thường trú: Ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: I L, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N – 1966 và bà Võ Thị V - 1969; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; bị cáo đang tại ngoại, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị cáo Nguyễn Thái K, Phạm Văn H không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17h00’ ngày 09/10/2022, Võ Văn T và Nguyễn Đăng T1, Nguyễn Đăng T2 chở thực phẩm vào cung cấp cho tàu hàng tại cảng Q. Sau khi bỏ hàng xong, T, T1, T2 ngồi hút thuốc lá trên cầu tàu trong khu vực cảng Q thì ông Phạm Khắc N1 là Nhân viên Điều Độ đi ca thuộc Trung tâm điều hành sản xuất, kiêm nhân viên chỉ đạo bãi Nhơn Hội thuộc Công ty cổ phần C phát hiện dùng điện thoại chụp ảnh và nhắc nhở theo quy định của công ty về việc cấm sử dụng thuốc lá trong phạm vi khu vực cảng. Thêm, T1, T2 không hút thuốc nữa và xin anh N1 xóa ảnh đã chụp nhưng anh N1 không đồng ý. Lo sợ anh N1 báo cho Ban giám đốc Cảng Q thì sẽ ảnh hưởng đến công việc làm trong cảng nên khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T điện thoại cho Võ Văn L kể lại sự việc xảy ra rồi bảo L gọi Nguyễn Thanh P đi cùng ra cầu Đ, phường H, thành phố Q canh ông N1 đi làm từ cảng Q về thì chặn đường đánh và xóa ảnh trong điện thoại, L đồng ý. L gọi P nói cho P biết việc T nhờ rồi điện thoại rủ Nguyễn Thái K đi cùng, K đồng ý. K điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 77L1-587.45 đến chở L đi trước, P điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu trắng, biển số: 52S2-5252 đi theo sau. Khi ra đến cầu Đ thì gặp T đang đứng chờ sẵn. Cả bốn đứng chờ đến khoảng hơn 23 giờ 30 phút cùng ngày nhưng không thấy ông N1 đi về nên T nói: “Mấy đứa đứng canh ở đây để anh vào xem thấy ổng ra thì điện thoại báo”. Thêm đi vào căn tin cảng Q, còn lại P, L, K đứng canh tại cầu Đ. Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 10/10/2022, không thấy T điện thoại báo tin và trời có mưa nên K bảo L điện thoại cho T đi về chứ không canh nữa.
Đến tối ngày 10/10/2022, T tiếp tục điện thoại rủ L, P, K đến căn tin cảng Q nhậu để nhờ đi đánh ông N1. Lừa đến trước nhậu với T, còn P bận không đến được. Riêng K, khi nhận điện thoại, biết T nhờ canh đánh ông N1 nên nói: “Em mắc nhậu bên đây rồi, khi nào đánh ông vụ hôm qua thì điện thoại em chạy qua”.
Đến khoảng 21h30’ cùng ngày, T điện thoại thúc giục nên P điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển số 52S2-5252 đến nhậu cùng. Do bận công việc nên khi thấy P đến thì L đi mua thêm bia và đá để cho T, P nhậu rồi đi về trước. Thêm dặn L “Về nhà nằm đi, xíu nữa chú gọi thì mày gọi thằng T3 (tức Nguyễn Thái K) đi cùng”. Đến khoảng 22h30’ cùng ngày, T điện thoại cho L nói: “Đi ra đi, điện thằng T3 qua đi, đứng gần căn tin canh”, L đồng ý và điện thoại cho K nói: “Anh T3 ơi, đi qua, đi canh đánh ông kia”, K đồng ý. K điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số: 77L1-587.45 đi đến để chở L. Lúc này, anh Võ Thiên S vừa về đến nhà, L thấy vậy không dám đi nên K điện thoại rủ Phạm Văn H đi cùng, H đồng ý. K điều khiển xe mô tô đến chở H đi ra cầu Đ đứng canh ông N1. Thêm dặn P khi nào thấy ông N1 lấy xe mô tô từ trong cảng đi ra thì sẽ chỉ cho P biết và P sẽ chạy xe theo ông N1, đồng thời điện thoại báo cho K biết.
Khoảng 23h00’ cùng ngày, sau khi làm việc xong ở cảng Q, ông Phạm Khắc N1 điều khiển xe mô tô biển số 77F5-2241 ra về. Thêm nhìn thấy và chỉ cho P biết nên P điều khiển xe mô tô biển số 52S2 - 5252 đi theo, đồng thời điện thoại cho K như đã phân công từ trước. K nhận điện thoại của P nên điều khiển xe mô tô biển số 77L1 - 587.45 chở H chạy về hướng cổng cảng Q. Trên đường đi, K thấy cây gỗ vuông cạnh kích thước (04x06)cm, dài khoảng 01m bên lề đường nên dừng xe lại bảo H xuống xe lấy cây gỗ cầm theo. Trên đường đi, H hỏi: “Đi đâu mà cầm theo cây vậy”, K nói cho H biết là T nhờ đánh ông ở cảng, H đồng ý. Khi K chở H đến trước cổng cảng Q thì thấy ông N1 điều khiển xe mô tô đi trước, P điều khiển xe mô tô theo sau. P ra hiệu cho K biết nên K điều khiển xe mô tô bám theo ông N1. Khi đến gần vòng xoay đường L
- L, P. H, TP ., K điều khiển xe mô tô vượt lên và áp sát vào xe mô tô ông N1 đang điều khiển rồi dùng chân đạp vào bên hông xe, làm xe mô tô 77F5-2241 và ông N1 ngã ra đường. Trong lúc, ông N1 đang lom khom ngồi dậy thì K dừng xe, lấy khúc cây gỗ trên tay H xông vào đánh nhiều cái vào người ông N1, ông N1 đưa tay lên đỡ rồi đứng dậy bỏ chạy về hướng nhà dân bên đường để kêu cứu. K tiếp tục đuổi theo, còn P dựng xe đuổi theo khoảng hơn 20m thì chặn ông N1 lại rồi dùng tay, chân đánh. K sử dụng cây gỗ tiếp tục đánh ông N1 trúng vào đầu gây chảy máu. Khi thấy chảy máu nên K dừng lại, còn P lục tìm điện thoại của ông N1 để xóa hình ảnh nhưng không tìm thấy điện thoại nên P vừa đánh vừa hỏi “Điện thoại ông đâu”. P tìm không có điện thoại nên đánh thêm mấy cái nữa rồi bỏ đi. Ông N1 quay lại lấy điện thoại bị rơi gần đó và được người đi đường thấy nên đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu và điều trị đến ngày 15/10/2022 ra viện. Xe mô tô nhãn hiệu DAMSEL màu đen, gắn biển số 77F5-2241 của ông N1 bị: Gãy rơi mất kính chiếu hậu bên phải; bửng trước bên phải bị nứt dài 10cm; ốp bụng phía sau bên trái bị vỡ mất 07cm; gác chân bên trái bị cong. Ngày 13/10/2022, ông Phạm Khắc N1 yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2023/HSST ngày 04 ngày 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh P 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thái K, Phạm Văn H; về trách nhiệm bồi thường thiệt hại; về phần xử lý vật chứng; về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 14/7/2023, bị cáo Nguyễn Thanh P có đơn kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều Bộ luật hình sự . Chấp nhận một phần kháng cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 18 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về thủ tục tố tụng: [1.1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [1.2]. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P đúng thời hạn kháng cáo; nội dung, hình thức đơn kháng cáo đúng quy định tại Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
. Về nội dung vụ án: Xuất phát từ việc anh Phạm Khắc N1 nhắc nhở và chụp lại hình ảnh hút thuốc lá của Võ Văn T, Nguyễn Đăng T2, Nguyễn Đăng T1 vì hút thuốc lá trong Cảng là trái quy định của Công ty cổ phần C. Võ Văn T lo lắng sợ anh N1 báo lại lãnh đạo Công ty sẽ gây khó khăn cho việc làm ăn nên đã điện thoại rủ rê, bàn bạc, phân công nhiệm vụ cho Nguyễn Thái K, Nguyễn Thanh P, Phạm Văn H theo dõi canh anh N1 đi làm về chặn đường đánh, xóa dữ liệu điện thoại các bị cáo đều đồng ý. Khoảng 23h00’ ngày 10/10/2022, phát hiện ông N1 đi làm về T báo cho P biết nên P điều khiển mô tô bám theo ông N1 đồng thời điện thoại báo cho Nguyễn Thái K và Phạm Văn H đi cùng. Sau đó, K và H bám theo ông N1 thì K dùng chân đạp ngã xe mô tô biển số 77F5-2241 do anh N1 điều khiển bị hư hỏng. Sau đó, K dùng cây gỗ là hung khí nguy hiểm (kích thước 4x6cm dài 1m) đánh vào người ông N1. Đồng thời, bị cáo P dùng chân, tay đánh ông N1. Hậu quả ông N1 bị thương tích 19%. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt bị cáo Nguyễn Thái K, Nguyễn Thanh P, Phạm Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Thái K phạm thêm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, hậu quả và hành vi do bị cáo gây ra.
. Xét kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thanh P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù người bị hại Như không mâu thuẫn gì với các bị cáo nhưng khi nghe Võ Văn T rủ đi đánh ông N1 thì tất cả các bị cáo đều đồng ý. Bị cáo Nguyễn Thái K dùng cây gỗ chuẩn bị trước đó trực tiếp gây thương tích cho bị hại, bị cáo Nguyễn Thanh P cũng giúp sức dùng chân, tay đánh bị hại, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 19%. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo P như thật thà khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại; tại phiên tòa sơ thẩm bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét thấy, vai trò của bị cáo Nguyễn Thanh P giữ vai trò đồng phạm giúp sức, bị cáo chỉ dùng chân tay đánh bị hại. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh P đã nộp tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại Phạm Khắc N1 10.000.000 đồng (đã bồi thường xong). Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đã được chính quyền địa phương xác nhận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P giảm cho bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa để bị cáo an tâm cải tạo. [5]. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị: Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 18 tháng tù là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về án phí: Theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thanh P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 101/2023/HSST ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh P 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh P không phải chịu án phí.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Thanh P đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Phạm Khắc N1 theo biên lai thu tiền số 0000853 ngày 05/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn để đảm bảo thi hành án.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.1 TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT Công an Tp . Quy Nhơn; - Cơ quan THAHS Công an Tp . Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp . Quy Nhơn; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Lê Xuân Hải |