vanban.org

Bản án 166/2023/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

TAND TP. Gò Công, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 08/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Long H.

Buộc chị Nguyễn Thị Thảo S có nghĩa vụ trả cho ông Trần Long H số tiền là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "tRẦN Long H tranh chấp đòi lại tài sản với Nguyễn Thị Thảo S"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Long H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GÒ CÔNG
TỈNH TIỀN GIANG
- Bản án số: 166/2023/DS-ST
- Ngày 08 tháng 8 năm 2023
- V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Duy Hùng

2. Ông Phạm Danh Hiếu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công - Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2023 về: “Tranh chấp đòi lại tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 115/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Long H, sinh năm 1968 (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M Ngh, xã BĐ, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thảo S, sinh năm 1986 (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Muôn Nghiệp, xã Bình Đông, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang (Xin vắng mặt)

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Phương L – Chi cục trưởng

2/ Anh Mai Ngọc T, sinh năm 1988 (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp MNgh, xã B Đ, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang;

3/ Anh Trần Long H, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M Ngh, xã B Đ, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Trần Long H trình bày:

Theo quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 209/2022/QĐST_DS ngày 29/9/2022, ông có nghĩa vụ chia tài sản chung trong hộ cho Long H số tiền 250.000.000 đồng. Quá trình thi Hnh án, ông đã tự nguyện giao cho vợ anh H là chị Thảo S số tiền 250.000.000 đồng. Anh T còn giữ số tiền bán đất của ông nên chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công đã ra quyết định v/v thu tiền của người phải thi Hnh án do người thứ ba giữ. Do đó, ngày 22/11/2022, anh T đã giao tiền tại chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công. Mặc dù ông đã giao cho chị S nhận số tiền 250.000.000 đồng chia tài sản cho ông H, nH cơ quan thi Hnh án cho rằng anh H không ủy quyền cho chị S nhận tiền.

Nay, ông yêu cầu chị Thảo S có nghĩa vụ trả cho ông số tiền 250.000.000 đồng, thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

* Theo bản tự khai và trong quá trình tố tụng bị đơn chị Nguyễn Thị Thảo S trình bày:

Ngày 22/11/2022, chị có nhận số tiền của anh Mai Ngọc T là 250.000.000 đồng, tiền này là của ông H bán đất cho anh T nên anh T trả tiền cho ông H nH do ông H có nghĩa vụ chia tài sản là quyền sử dụng đất trong hộ cho anh H số tiền 250.000.000 đồng nên anh T giao tiền cho chị nhận thay cho anh H. Anh H kêu chị nhận tiền của ông H để trả nợ vì anh H nợ nhiều người. Chị đã lấy số tiền 250.000.000 đồng của ông H chia tài sản cho anh H để trả nợ cho anh H, anh H biết và đồng ý. Chị không hiểu lý do gì anh H lại yêu cầu thi Hnh án yêu cầu ông H tiếp tục giao tiền cho anh H. Nay anh H đã bỏ đi, chị phải nuôi 02 con nhỏ, chị không đồng ý trả tiền cho ông H.

* Theo bản tự khai và trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công trình bày:

Theo Quyết định số 209/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang thì ông Trần Long H, ngụ ấp Muôn Nghiệp, xã Bình Đông, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang có nghĩa vụ trả cho anh Trần Long H số tiền chia tài sản chung trong hộ là 250.000.000 đồng, đồng thời ông Trần Long H còn phải nộp tiếp số tiền 2.825.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Qua làm việc với anh Mai Ngọc T trình bày hiện anh đang giữ số tiền mua đất còn lại của hộ ông Trần Long H là 270.000.000 đồng. Anh Mai Ngọc T biết nghĩa vụ phải thi Hnh án của ông Trần Long H theo Quyết định nêu trên. Để đảm bảo quyền và lợi ích của anh T sau này, anh xin nộp số tiền mua đất còn lại này cho Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công để xử lý theo quy định (có Biên bản giải quyết việc thi Hnh án ngày 10/01/2023; Biên bản giải quyết việc thi Hnh án ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công; Biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0014031 ngày 09/02/2023; Biên lai thu tiền số 0007397 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công kèm theo).

Đồng thời qua làm việc với anh Trần Long H (là nguyên đơn trong vụ án trên), anh trình bày đến nay anh chưa nhận được số tiền chia tài sản chung trong hộ là 250.000.000 đồng theo Quyết định số 209/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang từ ông Trần Long H (có Biên bản giải quyết việc thi Hnh án ngày 13/02/2023 của Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công kèm theo). Ngày 13/02/2023, anh Trần Long H làm đơn yêu cầu thi Hnh án buộc ông Trần Long H phải thi Hnh nghĩa vụ trả tiền cho anh H theo nội dung Quyết định của Tòa án. Ngoài ra, ông Trần Long H còn phải thi Hnh án cho bà Nguyễn Thị Ngọc Mai theo Quyết định thi Hnh án theo yêu cầu số 76/QĐ-CCTHADS ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công với số tiền 200.000.000 đồng và lãi chậm thi Hnh án.

Ngày 15/02/2023, Chi cục Thi Hành án dân sự thị xã Gò Công đã ban Hnh Quyết định thi Hnh án theo yêu cầu số 99/QĐ-CCTHADS ngày 15/02/2023, nội dung Quyết định: Buộc ông Trần Long H có nghĩa vụ trả cho anh Trần Long H số tiền 250.000.000 đồng. Ngày 16/02/2023, Chấp Hnh viên Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công đã ban Hnh Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS ngày 16/02/2023 về việc thu tiền của người phải thi Hnh án đang do người thứ ba giữ. Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công đã tiến Hnh trích chuyển số tiền 250.000.000 đồng mà anh Mai Ngọc T nộp sang thu bồi thường và đã chi tiền bồi thường cho anh Trần Long H, anh H nộp số tiền phải thi Hnh án cho bà Mai theo Quyết định thi Hnh án theo yêu cầu số 76/QĐ-CCTHADS ngày 08/12/2022 xong. Như vậy, Quyết định thi Hnh án theo yêu cầu số 99/QĐ-CCTHADS ngày 15/02/2023 và Quyết định thi Hnh án theo yêu cầu số 76/QĐ-CCTHADS ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công đã được thi Hnh xong. Vì vậy, đối với yêu cầu của ông Trần Long H về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị Thảo S trả lại cho ông H số tiền 250.000.000 đồng. Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công không có ý kiến, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công căn cứ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

* Theo bản tự khai và trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Mai Ngọc T trình bày:

Anh có mua đất của ông H số tiền 2.400.000.000 đồng, anh đã giao cho ông H trước số tiền 1.070.000.000 đồng, còn số tiền 1.330.000.000 đồng, ông H yêu cầu anh đưa cho chị S (vợ anh Long H) số tiền 250.000.000 đồng. Theo quyết định thỏa thuận số 197/2020 ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, anh giao tiền cho chị S ngày 22/11/2022, còn lại số tiền 1.080.000.000 đồng anh giao tiền cho ông H, còn nợ lại 300.000.000 đồng. Cơ quan thi Hnh án có mời anh đến để giải quyết vì cho rằng anh H còn nợ tiền trong vụ án khác. Ngày 10/01/2023, anh đưa ông H số tiền 30.000.000 đồng, còn lại 270.000.000 đồng. Ngày 09/02/2023, Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công yêu cầu anh nộp số tiền 250.000.000 đồng (nộp thay cho ông H) và thu số tiền án phí của ông H là 2.825.000 đồng, còn lại số tiền khoảng 17.000.000 đồng, anh đã giao đủ cho ông H. Anh đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người mua đất. Nay trong vụ án này anh không có ý kiến gì.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Long H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nH anh không đến dự phiên tòa cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc ông Trần Long H khởi kiện. Toà án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết:

Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa ông Trần Long H với chị Nguyễn Thị Thảo S, địa chỉ ấp Muôn Nghiệp, xã Bình Đông, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang là “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo quy định tại khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Về thủ tục tố tụng: Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công, Ông Trần Long H, chị Nguyễn Thị Thảo S, anh Mai Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Long H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nH anh vẫn vắng mặt không lý do vì vậy căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến Hnh xét xử vắng mặt các đương sự trên.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Long H. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Theo Quyết định số 209/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, ông H có nghĩa vụ chia tài sản chung trong hộ cho anh Long H số tiền 250.000.000 đồng. Quá trình thi Hnh án, ông H đã tự nguyện giao cho vợ anh H là chị Thảo S số tiền 250.000.000 đồng. Mặt khác, anh Mai Ngọc T có nhận chuyển nhượng đất của ông H, chưa giao đủ tiền cho ông H và còn giữ số tiền của ông H nên Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công đã ra quyết định về việc thu tiền của người phải thi Hnh án do người thứ ba giữ. Do đó, ngày 22/11/2022, anh T đã giao tiền tại Chi cục thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công. Mặc dù ông H đã giao cho chị Thảo S nhận số tiền 250.000.000 đồng chia tài sản cho anh H nH Chi cục thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công cho rằng anh H không ủy quyền cho chị S nhận tiền nên đã giữ số tiền bán đất của ông.

Theo bản tự khai và biên bản hòa giải, chị S thừa nhận có nhận của anh Mai Ngọc T số tiền là 250.000.000 đồng, tiền này là của ông H bán đất cho anh T nên anh T trả tiền cho ông H nH do ông H có nghĩa vụ chia tài sản là quyền sử dụng đất trong hộ cho anh H số tiền 250.000.000 đồng, nên anh T giao tiền cho chị nhận thay cho anh H. Anh H kêu chị nhận tiền của ông H để trả nợ vì anh H nợ nhiều người. Chị đã lấy số tiền 250.000.000 đồng của ông H chia tài sản cho anh H để trả nợ cho anh H, anh H biết và đồng ý. Chị không hiểu lý do gì anh H lại yêu cầu thi Hnh án yêu cầu ông H tiếp tục giao tiền cho anh H. Nay anh H đã bỏ đi, chị không đồng ý trả tiền cho ông H.

Như vậy, anh Mai Ngọc T đã giao số tiền nhận chuyển nhượng đất của ông H là 250.000.000 đồng cho Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã Gò Công để thi Hnh án cho anh H nên nghĩa vụ của ông H đối với anh H theo quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số Quyết định số 209/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang đã thi Hnh xong. Chị S thừa nhận có nhận số tiền 250.000.000 đồng của ông H thì phải có nghĩa vụ trả lại cho ông H là có cơ sở.

Việc chị S cho rằng chị nhận số tiền 250.000.000 đồng của ông H được sự đồng ý của anh H và đã trả nợ cho anh H nH anh H không đến Tòa án trình bày ý kiến và chị S cũng không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, sau này giữa chị S và anh H có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

+ Về thời gian trả nợ:

Chị Nguyễn Thị Ngọc S đã vi phạm thời gian trả nợ nên cần buộc chị S trả cho ông H số tiền 250.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở.

Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu của ông Trần Long H là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

+ Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Thảo S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Yêu cầu khởi kiện của ông Trần Long H được chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 166, Điều 468 Bộ luật dân sự

- Căn cứ khoản 14 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Long H.

Buộc chị Nguyễn Thị Thảo S có nghĩa vụ trả cho ông Trần Long H số tiền là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi Hnh án của người được thi Hnh án cho đến khi thi Hnh án xong tất cả các khoản tiền, Hng tháng bên phải thi Hnh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi Hnh án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị Thảo S phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).

- Hoàn lại ông Trần Long H số tiền tạm ứng án đã nộp là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0027338 ngày 13/4/2023 của Chi cục Thi Hành án dân sự thị xã Gò Công.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp Bản án được thi Hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi Hnh án dân sự thì người được thi Hành án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hành án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ