vanban.org

Bản án 166/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Phú Tân, tỉnh An Giang Tuyên án 12/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự hội đồng; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
__________
Bản án số: 166/2023/DS-ST
Ngày: 12/7/2023.
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

2. Ông Huỳnh Văn Sức

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 59/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2023, về tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2023/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt, Địa chỉ: Tầng 1, 3 ,4, 5, 6 Tòa nhà Capital Tower, số 210 Trần Quang Khải, Phường Tràng Tiền, Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Việt Nam.

Người đại diện theo ủy quyền: Mai Đức Minh - Chức vụ - Giám đốc Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt- Chi nhánh An Giang.

Người đại diện theo uỷ quyền cho ông Minh: ông Nguyễn Trường V, Chức vụ: Giám đốc – Phòng giao dịch Phú Tân- Chi nhánh An Giang làm đại diện ( văn bản ủy quyền số 13004/2021/UQ – LiênVietPostBank.AG ngày 27 tháng 4 năm 2021. (có mặt)

Bị đơn: Ông Trần Minh K, sinh năm 1964, nơi cư trú: ấp PMT, xã PT, huyện PT, tỉnh AG. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn do ông Nguyễn Trường Vũ đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 07/07/2017 Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – Chi nhánh An Giang- Phòng giao dịch Phú Tân có ký hợp đồng tín dụng số HĐTD9122017162 với ông Trần Minh K cho ông K vay số tiền 240.000.000đ, hình thức vay tín chấp, thời hạn trả nợ là đến 07/07/2022 lãi suất 11,5%/năm hình thức trả theo hàng tháng. Sau khi vay ông K có trả nợ hàng tháng đến khoảng giữa năm 2021 thì ông K ngưng không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng cho đến nay số tiền vay vốn còn lại 44.000.000đ. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông K đã vi phạm hợp đồng, không trả nợ theo hợp đồng, phía Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở ông K thực hiện việc trả nợ nhưng ông K cố tình tránh né không trả. Để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp Ngân hàng, nay ông Vũ đại diện cho Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt – Chi nhánh An Giang- Phòng giao dịch Phú Tân yêu cầu ông Trần Minh K trả số tiền vay vốn là 44.000.000đ và tiền lãi phát sinh 14.425.850 đồng (tạm tính đến ngày 12/7/2023). Tổng cộng vốn và lãi là 58.425.850 đồng

Bị đơn ông Trần Minh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng không đến tham gia tố tụng, không gửi ý kiến bằng văn bản, nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 9122017162 ngày 07/7/2017 giữa ông Trần Minh K với Ngân hàng, số tiền vay là 240.000.000đ, ông K còn nợ Ngân hàng số tiền 58.425.850 đồng (trong đó: vốn gốc 44.000.000đồng, tiền lãi 14.425.850 đồng) thì ngưng nên ngân hàng khởi kiện là có cơ sở. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông K có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền vốn và lãi 58.425.850 đồng tính đến ngày 12/7/2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt khởi kiện bị đơn có nơi cư trú tại ấp Phú Mỹ Thượng, xã Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Phú Tân. tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt đương sự.

[2] Về nội dung: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với ông K được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau thể hiện bằng Hợp đồng tín dụng số HĐTD9122017162 ngày 07/7/2017, theo hợp đồng ông K vay số tiền 240.000.000 đồng, mục đích vay là mua sắm tư liệu sinh hoạt, thời hạn trả nợ là đến 07/07/2022 lãi suất 11,5%/năm hình thức trả theo hàng tháng. Tính đến ngày 12/7/2023 còn nợ lại là 44.000.000 đồng và nợ lãi 14.425.850 đồng. đồng. Về hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

[2.1] Căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là hồ sơ Hợp đồng tín dụng số HĐTD9122017162 ngày 07/7/2017. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc nguyên đơn yêu cầu trả nợ vay và triệu tập ông K tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng ông K vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có giá trị pháp lý.

[2.2] Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn với ông K được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, theo đó ông Khánh đã nhận số tiền vay 240.000.000đ. Sau khi vay thì ông K thực hiện nghĩa vụ đóng lãi và trả vốn được một phần. Từ giữa năm 2021 đến nay, ông K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Do ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông K trả số tiền vốn còn nợ và lãi tính đến ngày 12/7/2023 là 58.425.850 đồng phù hợp với Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Từ những cơ sở trên nghĩ nên buộc ông K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt số tiền vốn còn nợ là 44.000.000đồng và lãi tính đến ngày 12/7/2023 là 14.425.850 đồng. Tổng cộng là 58.425.850đồng

[3] Về án phí: ông K phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 463; 466 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt

Buộc ông Trần Minh K có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vốn còn nợ là 44.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 12/7/2023 là 14.425.850 đồng. Tổng cộng là 58.425.850đồng

Kể từ ngày 13/07/2023 ông K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số số HĐTD9122017162 ngày 07/7/2017 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Án phí DSST: Ông Trần Minh K phải chịu 2.921.000đồng.(hai triệu chín trăm hai mươi mốt ngàn đồng)

Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 3.150.000 đồng (do đại diện Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt –phòng giao dịch huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nhận) theo biên lai số 0005981 ngày 13/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân.

Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ