vanban.org

Bản án 1657/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/09/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim Chi - Nguyễn Xuân Đạt"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1657/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22- 9 - 2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Quyên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 162/2021/TLST-HNGĐ ngày 14/5/2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4992/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/9/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1974 (vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt).

Địa chỉ: Bà Hạt, Phường 6, Quận 10 Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (để nhận giấy tờ, quyết định của Tòa án): Bà Nguyễn Thị Phi Đ, sinh năm 1961 (vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt); địa chỉ: 635/19 Bà Hạt, Phường 6, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 005508, quyển số 05/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/5/2021 tại Phòng công chứng số 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1), sinh năm 1966 (vắng mặt).

Địa chỉ: 8200 Broadway ST 206 N Houston TX 77061 USA.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim C có ý kiến trình bày:

Bà và ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) tự nguyện kết hôn vào năm 2009, theo giấy chứng nhận kết hôn số 2108, quyển số 08 ngày 24/6/2009 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp.

Sau khi kết hôn bà và ông Đ1 chung sống với nhau được khoảng 01 tháng, sau đó ông Đ1 quay trở về Hoa Kỳ sinh sống và làm việc. Tuy nhiên, sau khi ông Đ1 sang Hoa Kỳ thì hai bên tự cắt đứt liên lạc không còn qua lại với nhau nữa. Từ năm 2009 đến nay bà và ông Đ1 đã sống ly thân, bà không có điều kiện sang Hoa Kỳ còn ông Đ1 không trở về Việt Nam thăm bà và giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ của vợ chồng. Bà và ông Đ1 không còn quan tâm đến đời sống của nhau. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không Đ1 được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1). Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có. Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ được vì ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) đang cư trú tại Hoa Kỳ. Tại phiên tòa sơ thẩm, Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1)đều vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C, cho bà Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Kim C đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh có đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 37, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Nguyễn Thị Kim C tham gia phiên tòa lần thứ nhất vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 24/8/2022, lần hai vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 22/9/2022 nhưng bà Nguyễn Thị Kim C có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Đối với ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1), Tòa án đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp tống Đ1 Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 162/TB-TLVA ngày 14/5/2021 cho ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) theo Công văn số 469/TTTPDS-TA30 ngày 29/6/2021 đề nghị tống Đ1 văn bản trên cho ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) theo quy định của pháp luật. Theo Công văn số 2536/CH-BTP ngày 10/12/2021 của Bộ Tư pháp thì Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ ủy thác nêu trên cho Công ty ABC Legal, Hoa Kỳ. Ngày 25/4/2022 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được văn bản số 905/BTP-PLQT ngày 14/4/2022 thông báo về kết quả ủy thác tư pháp cho ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) như sau: Tống Đ1 hồ sơ trực tiếp cho đương sự vào ngày 29/01/2022.

Tuy nhiên, đến nay không thấy ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) có thông tin phản hồi. Tòa án đã mở phiên tòa xét xử vụ án lần thứ nhất vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 24/8/2022 nhưng do ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa, tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) vẫn tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 2108, quyển số 08 ngày 24/6/2009 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp cấp thì quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị Kim C và ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) là hợp pháp.

Theo nguyên đơn trình bày thì sau khi kết hôn hai bên chung sống với nhau được khoảng 01 tháng, sau đó ông Đ1 quay trở về Hoa Kỳ sinh sống và làm việc. Tuy nhiên, sau khi ông Đ1 sang Hoa Kỳ thì hai bên tự cắt đứt liên lạc không còn qua lại với nhau nữa. Từ năm 2009 đến nay hai bên đã sống ly thân và không còn quan tâm đến đời sống của nhau. Bà C nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không Đ1 được nên bà C đề nghị Tòa án giải quyết cho bà C được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1). Về phía ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1), Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp và thông báo ngày giờ mở phiên tòa xét xử cho ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) theo quy định pháp luật ông Đ1 đã nhận được văn bản thông báo của Tòa án vào ngày 29/01/02022 nhưng đến nay không có phản hồi, cũng không có mặt tại phiên tòa. Điều này chứng tỏ ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa.

Xét thấy mục đích hôn nhân chỉ có thể Đ1 được khi vợ chồng thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau. Đây cũng là tình cảm và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau và được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nay bà Nguyễn Thị Kim C xác định tình cảm giữa bà Nguyễn Thị Kim C và ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) không còn, cũng không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, mục đích hôn nhân không Đ1 được. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó bà Nguyễn Thị Kim C yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim C khai không có nên không xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim C khai không có nên không xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Nguyễn Thị Kim C phải chịu theo quy định của pháp luật. [5] Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 262, Điều 273, Điều 477 và 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1). 2. Về con chung: Không có. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có. 4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim C phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Nguyễn Thị Kim C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2019/0094115 ngày 12 tháng 5 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Kim C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim C được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Xuân Đ1 (Nguyen Xuan Đ1) có quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống Đ1 hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ