- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Hoàng T - Nguyễn Hoàng G"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Hoàng T:
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1656/2026/HNGĐ-ST Ngày: 25/08/2026 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lưới. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Tuyết Hằng 2. Ông Nguyễn Văn Nguyện
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên. Ngày 25 tháng 08 năm 2026 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 502/2026/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 04 năm 2026 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3160/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/07/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 3964/2026/QĐST-HNGĐ ngày 04/08/2026, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Võ Hoàng T, sinh năm: 1989, (có đơn xét xử vắng mặt) Số CCCD: xxxxxxxxxxxx Địa chỉ: nhà không số thuộc ấp B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng G, sinh năm: 1982, (vắng mặt) Số CCCD: xxxxxxxxxxxx Địa chỉ: nhà không số thuộc ấp B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05/06/2025, bản tự khai ngày 08/05/2026 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Võ Hoàng T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hoàng G tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2008, đôi bên có tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì giữa vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng đã ly thân. Do tình cảm đối với nhau không còn, mâu thuẫn không hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông G.
Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Võ Hoàng M, nữ, sinh ngày 21/05/2008 (đã trưởng thành); Nguyễn Võ Tú N, nữ, sinh ngày 04/9/2012 và Nguyễn Võ Trung H, nam, sinh ngày 29/9/2020. Khi ly hôn bà Võ Hoàng T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ N, trẻ H và yêu cầu ông Nguyễn Hoàng G cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng)/1 trẻ.
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Hoàng G đã được Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông G vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Bà Võ Hoàng T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng G. Đây là tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[1.2] Bị đơn cư trú tại xã T, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/06/2025, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/06/2025;
Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn: Bà Võ Hoàng T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về hình thức: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 04, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/01/2008 thì bà Võ Hoàng T và ông Nguyễn Hoàng G là vợ chồng được pháp luật công nhận.
Về nội dung: Xét lời trình bày của bà Võ Hoàng Thu N1 thấy giữa bà T với ông G trước khi kết hôn đã có thời gian quen biết và tìm hiểu nhau nên hôn nhân giữa đôi bên là hoàn toàn tự nguyện. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc do bất đồng quan điểm, tình tình không hợp và đã ly thân nên bà T yêu cầu ly hôn với ông G để sớm ổn định cuộc sống.
Tòa án đã tiến hành triệu tập ông Nguyễn Hoàng G đến Tòa để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông G không đến. Hai lần triệu tập đến tham gia phiên Tòa ông G vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy ông Nguyễn Hoàng G đã không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Hội đồng xét xử thấy rằng giữa bà T và ông G có mâu thuẫn xảy ra trong cuộc sống, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà không thể cùng chung sống để xây dựng gia đình hạnh phúc nên bà T yêu cầu ly hôn với ông G là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Võ Hoàng M, nữ, sinh ngày 21/05/2008 (đã trưởng thành); Nguyễn Võ Tú N, nữ, sinh ngày 04/9/2012 và Nguyễn Võ Trung H, nam, sinh ngày 29/9/2020. Khi ly hôn bà Võ Hoàng T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ N, trẻ H và yêu cầu ông Nguyễn Hoàng G cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng)/1 trẻ. Việc này phù hợp với nguyện vọng của trẻ Tú N.
Xét yêu cầu của bà Võ Hoàng T phù hợp với quy định tại Điều 58, 107, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử quyết định giao hai trẻ Nguyễn Võ Tú N, nữ, sinh ngày 04/9/2012 và Nguyễn Võ Trung H, nam, sinh ngày 29/9/2020 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Hoàng G có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng)/1 trẻ. Các bên đương sự trực tiếp thực hiện việc giao và nhận tiền cấp dưỡng nuôi con vào ngày 15 dương lịch hàng tháng, thời gian bắt đầu thực hiện từ ngày 15/09/2026 cho đến khi nào phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Kể từ khi bà Võ Hoàng T có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Hoàng G chậm nộp tiền cấp dưỡng nuôi con thì ông Nguyễn Hoàng G còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ông Nguyễn Hoàng G có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Hoàng T khai nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Tòa án không đặt ra để giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Từ những lý lẽ đã viện dẫn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Hoàng T.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Hoàng T chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, ông Nguyễn Hoàng G chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2025;
Áp dụng Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/06/2025 quy định về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
Áp dụng Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/06/2025 quy định về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân;
Áp dụng điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Hoàng T:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Hoàng T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng G.
Giấy chứng nhận kết hôn số 04, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/01/2008 không còn giá trị pháp lý.
1.2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Võ Tú N, nữ, sinh ngày 04/9/2012 và Nguyễn Võ Trung H, nam, sinh ngày 29/9/2020 cho bà Võ Hoàng T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Hoàng G có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng)/1 trẻ. Các bên đương sự trực tiếp thực hiện việc giao và nhận tiền cấp dưỡng nuôi con vào ngày 15 dương lịch hàng tháng, thời gian bắt đầu thực hiện từ ngày 15/09/2026 cho đến khi nào phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Kể từ khi bà Võ Hoàng T có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Hoàng G chậm nộp tiền cấp dưỡng nuôi con thì ông Nguyễn Hoàng G còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ông Nguyễn Hoàng G có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Hoàng T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Tòa án không đặt ra để giải quyết.
2. Về án phí: Bà Võ Hoàng T chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0018686 ngày 26/03/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H. Bà Võ Hoàng T đã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn Hoàng G chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 34, Điều 36 và Điều 71 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 10; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Lưới |