- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Đ phạm tội Cố ý gây thương tích - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phạm tội "Cố ý gây thương tích".
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2026/HS-ST Ngày: 30-7-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Sang và bà Vũ Thị Dinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Tô Tuấn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 158/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2026, đối với:
* Bị cáo: NGUYỄN NGỌC Đ, sinh ngày 15/6/19xx; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, thành phố H; Nghề nghiệp: lao động tự do; Giới tính: nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: lớp 7/10; Căn cước công dân: 001062016002; Con ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Lê Thị Đ (đều đã chết); (ông Nguyễn Ngọc Đ - bố đẻ bị cáo được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất); có vợ là Nguyễn Thị K, sinh năm 19xx và 03 con, con lớn sinh năm 19xx, con nhỏ sinh năm 19xx; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/5/2026, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 20xx; Nơi cư trú: Thôn số x (nay là thôn D), xã T, tỉnh Hưng Yên (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 19xx (con trai bị cáo Nguyễn Ngọc Đ).
Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, thành phố Hà Nội (có mặt).
* Người làm chứng:
- Anh Bùi Hữu S, sinh năm 20xx; Nơi cư trú: Thôn số x (nay là thôn D), xã T, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
- Chị Bùi Thị Phương T, sinh năm 20xx; Nơi cư trú: Thôn số x (nay là thôn D), xã T, tỉnh Hưng Yên (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 19xx; Thôn số x (nay là thôn D), xã T, tỉnh Hưng Yên (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, thành phố Hà Nội (có mặt).
- Anh Bùi Quý C, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Thôn số x (nay là thôn D), xã T, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Trọng Q, sinh năm 20xx; Nơi cư trú: Thôn B (nay là thôn B), xã Đ, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/02/2021, tại số nhà xxx, thôn số x (nay là thôn D), xã T, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Ngọc Đ đang nướng thịt cùng anh Bùi Quý C, lúc này anh Đ nghe thấy bên cạnh nhà em họ mình là anh Hoàng Văn L và chị Bùi Thị Phương T cãi nhau thì anh Đ đi sang cổng nhà anh L với mục đích can ngăn và nói với chị T: “Bớt gào mồm đi, nó điên nó lại đánh cho", nghe anh Đ nói vậy anh L chửi: “Thằng chó kia nói gì". Sau đó giữa L và anh Đ xảy ra xô xát đánh nhau thì được mọi người can ngăn, L chạy về nhà lấy 02 con dao dạng dao rựa định đánh Đ nhưng được mọi người can ngăn và đẩy hai người ra rồi ai về nhà đấy. Sau đó L đi vào trong nhà soi gương thấy gò má bên phải bị sưng, L bức xúc đi vào bếp lấy 01 một con dao (loại dao gọt hoa quả) dài 20,5cm có cán nhựa màu vàng dài 9cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm một đầu vát nhọn bản rộng 2cm và dùng chân đạp đổ trạn bát dùng để ngăn cách giữa nhà rồi L đi sang nhà Đ, thấy vậy Đ dùng chân đạp một cái về phía người L nhưng không trúng thì bị L cầm dao đâm một nhát vào vùng cổ vai trái, Đ bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa Thái Thuỵ sau đó chuyển tuyến điều trị tại bệnh viện Việt Đức Hà Nội. Sau khi gây thương tích cho Đ, L đi bộ ra đầu ngõ gần cổng nhà văn hoá thôn số 2, xã Thái Thuỵ, tỉnh Hưng Yên đứng hút thuốc lá.
Tại thời điểm này Nguyễn Ngọc Đ là bố đẻ của Nguyễn Ngọc Đ đang đi ăn tất niên tại gia đình ông Bùi Đình G, sinh năm 19xx trú tại thôn B, xã T, tỉnh Hưng Yên thì bà Nguyễn Thị K (là vợ Đ) gọi điện thoại cho Đ nhưng không được nên điện thoại cho ông Giooc nhờ chuyển lời tới Đ, sau đó ông Giooc nói: “Chú về ngay, thằng Día (L) nó đâm thằng Đ”, nhận được thông báo Đ đi về nhà luôn. Khi Đ đi đến nhà văn hoá tổ dân phố số 2 thấy L đang đứng hút thuốc lá tại đầu ngõ lối rẽ về nhà mình, Đ không nói gì mà đi thẳng về nhà và nhìn thấy có nhiều máu vung vãi ở nền sân, không thấy Đ ở nhà, Đ cũng không hỏi ai về tình hình thương tích của Đ như thế nào mà đi vào trong nhà lấy 01 đoạn sắt hình hộp kích thước khoảng (4x4x100)cm dùng để chống cửa lên, xuống cầu thang, đi ra đầu ngõ gặp L vụt 01 cái trúng trán trái của L. Lúc này mẹ L là bà Nguyễn Thị N cùng với vợ L và mọi người can ngăn nên Đ không đánh nữa rồi đi về nhà lấy xe đi lên Bệnh viện thăm Đ, còn L bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Thái Bình.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 02/2026/KLTgTHS-TTPY&GĐYK ngày 20/01/2026 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh Hưng Yên kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc Đ qua hồ sơ là 05%. Cơ chế hình thành thương tích 01 vết thương nền cổ trái là do dạng vật sắc hoặc sắc nhọn gây nên. Hiện tại không thu thập được phim chụp X-Q vai phải nên không nghiên cứu được toàn diện đặc điểm và chiều hướng cũng như vị trí khi chỏm xương cánh tay bị trật khỏi ổ khớp nên không xác định được cơ chế hình thành thương tích này.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 03/2026/KLTgTHS-TTPY&GĐYK ngày 20/01/2026 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh Hưng Yên kết luận:
+ Các thương tích có trước ngày 10/02/2021 (Ngày 26/01/2021 Hoàng Văn L bị tai nạn giao thông phải nhập viện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình để điều trị đến ngày 09/02/2021 thì xuất viện) gồm các thương tích sau:
- Máu tụ dưới màng cứng vùng chẩm Đ trái, lều tiểu não đã điều trị, không còn hình ảnh tổn thương trên chuẩn đoán hình ảnh. (Tỷ lệ: 08%).
- Chảy máu dưới màng nhện vài rãnh cuộn não Đ trái đã điều trị, không còn hình ảnh tổn thương trên chuẩn đoán hình ảnh. (Tỷ lệ: 08%).
- Gãy thành trước, thành ngoài xoang hàm phải. (Tỷ lệ: 07%).
- Gãy xương hàm trên Lefort II. (Tỷ lệ: 08%).
- Gãy xương cung tiếp gò má phải. (Tỷ lệ: 08%).
- Gãy xương bờ ngoài ổ mắt phải. (Tỷ lệ: 05%).
- Vỡ xương nền hốc mũi, xương vách ngăn mũi, thành bên xương C mũi. (Tỷ lệ: 07%).
- 01 vết thương nhỏ cung mày phải (Bờ ngoài ổ mắt phải) do phẫu thuật kết hợp xương cung tiếp gò má phải. (Tỷ lệ: 03%).
- 01 vết thương ngách tiền đình hàm trên do phẫu thuật kết hợp xương hàm trên. (Tỷ lệ: 01%).
+ Các thương tích của Hoàng Văn L do vụ việc ngày 10/02/2021 gây ra gồm các thương tích sau:
- 01 vết thương nhỏ vùng trán trái. (Tỷ lệ: 03%).
- Tụ máu ngoài màng cứng trán trái. (Tỷ lệ: 11%).
- Chảy máu dưới nhện các rãnh cuộn não trái bên trái. (Tỷ lệ: 11%).
- Vỡ xương trán trái. (Tỷ lệ: 08%).
- Vỡ thành xoang trán trái. (Tỷ lệ: 07%).
- Mắt trái sang chấn dập nhãn cầu tụ máu mi; Thị lực 2 mắt 10/10. Trong thông tư số 22/2019/TT-BYT không có quy định để áp dụng tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với dạng tổn thương này.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hoàng Văn L qua hồ sơ là 63%. Trong đó tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của các thương tích do vụ việc ngày 10/02/2021 gây ra là 34%. Cơ chế hình thành thương tích là do dạng va đập với vật cứng hoặc nền cứng và can thiệp y tế gây nên.
Cáo trạng số 114/CT-VKSKV7 ngày 08/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).
* Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên đã truy tố. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Ngọc Đ trình bày: Ngày 10/02/2021 giữa anh và anh Hoàng Văn L có xảy ra xô xát, anh L dùng dao đâm vào vùng cổ vai trái gây thương tích cho anh 05%. Sau khi nghe tin anh bị anh L đánh nên bị cáo Đ đã về nhà lấy thanh sắt ra chỗ anh L đang đứng vụt vào trán anh L, dẫn đến anh L bị thương tích vùng đầu, trán tỷ lệ 34%. Ngày 18/3/2021 anh đã làm đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh L. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo Đ và anh L đã tự nguyện thoả thuận bồi thường xong. Sự việc xảy ra do bị cáo Đ bức xúc việc anh L đánh anh bị thương nên đã gây thương tích cho anh L, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
* Người làm chứng - bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị K và chị Bùi Thị Phương T trình bày: Tối ngày 10/02/2021 tại thôn số 2 (nay là thôn Diêm Điền 1), xã Thái Thuỵ, tỉnh Hưng Yên các bà, anh, chị đã chứng kiến sự việc xô xát xảy ra giữa Nguyễn Ngọc Đ, Hoàng Văn L và Nguyễn Ngọc Đ. Anh L dùng dao đâm gây thương tích ở vai của anh Đ, do bức xúc việc L đánh anh Đ nên bị cáo đã Đ dùng đoạn sắt vụt vào trán gây thương tích cho anh L.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngoc Đ từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/5/2026.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ và anh Nguyễn Ngọc Đ cùng bị hại anh Hoàng Văn L đã tự nguyện thoả thuận bồi thường cho nhau và không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đều nhận thức ra sai phạm và rất ăn năn hối hận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận, tối ngày 10/02/2021, bị cáo đang ăn tất niên tại gia đình ông Bùi Đình Giooc ở xã Thái Ninh, tỉnh Hưng Yên thì vợ bị cáo điện thoại thông tin việc anh Hoàng Văn L đâm thương tích cho Nguyễn Ngọc Đ (con trai bị cáo) nên bị cáo đi về nhà. Khi bị cáo về đến nhà văn hoá tổ dân phố số 2 thấy anh L đang đứng hút thuốc lá tại đầu ngõ, bị cáo vào trong nhà thấy có nhiều máu vung vãi ở nền sân, do tinh thần bị kích động nên bị cáo đã lấy 01 đoạn sắt hình hộp đi ra ngõ vụt 01 cái trúng vào trán của anh L dẫn đến anh L bị thương vỡ xương trán trái, vỡ thành xoang trán trái, sang trấn mắt trái tỷ lệ thương tích là 34%.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an thị trấn Diêm Điền (nay là Công an xã Thái Thuỵ) lập ngày 10/02/2021; Bệnh án của Hoàng Văn L tại Bệnh viện đa khoa Thái Bình; Tờ điều trị của Nguyễn Ngọc Đ tại Bệnh viện đa khoa Thái Thuỵ; Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường; Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 02/2026/KLTgTHS-TTPY&GĐYK ngày 20/01/2026 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh Hưng Yên; Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 03/2026/KLTgTHS-TTPY&GĐYK ngày 20/01/2026 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh Hưng Yên cùng tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc Đ dùng đoạn sắt hình hộp là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng trán trái của anh Hoàng Văn L gây thương tích cho anh L tỷ lệ là 34% đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự) như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên truy tố là đúng người đúng tội đúng pháp luật.
Tội danh và hình phạt được quy định như sau:
Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sửa khoẻ của người khác
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người”;
….
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
….
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 30% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Do đó việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định nào tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, sau khi phạm tội đã tự nguyện thoả thuận bồi thường, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, e, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, hành vi của phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sức khoẻ của bị hại tỷ lệ thương tích 34%, vì vậy cần xử bị cáo mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động do bị hại đánh con bị cáo, bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ do đó cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai phạm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Nguyễn Ngọc Đ và anh Nguyễn Ngọc Đ cùng bị hại anh Hoàng Văn L đã tự nguyện thoả thuận bồi thường cho nhau xong, không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 một con dao (loại dao gọt hoa quả) dài 20,5cm có cán nhựa màu vàng dài 9cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm một đầu vát nhọn bản rộng 2cm. Ngày 12/6/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã xác minh và trả lại cho chủ sở hữu là chị Bùi Thị Phương T. Vì vậy, vật chứng đã được xử lý xong nên không đặt ra giải quyết.
Về các vấn đề khác:
Anh Hoàng Văn L dùng dao đâm vào vùng cổ vai trái anh Nguyễn Ngọc Đ gây thương tích tỷ lệ là 05%. Hành vi của L đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 18/3/2021 anh Đ làm đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L nên không xử lý về hình sự đối với Hoàng Văn L là đúng quy định pháp luật.
Đối với đoạn sắt hình hộp có kích thước khoảng (4x4x100)cm sau khi phạm tội bị cáo không nhớ để ở vị trí nào trong khu vực nhà của bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, có đơn đề nghị được miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phạm tội "Cố ý gây thương tích".
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 14/5/2026.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Ngọc Đ.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/7/2026. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống Đ hợp lệ. * Nơi nhận:
| - TAND - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Công an tỉnh Hưng Yên; - CQCSĐT Công an tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hưng Yên; - VKSND khu vực 7 - Hưng Yên; - Phòng THADS KV7 - Hưng Yên; - Bị cáo; Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phạm Thị Diệu Thúy |