vanban.org

Bản án 165/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 28/11/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "CHU ĐỨC N PHẠM TỘI "TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:165/2024/HSST
Ngày: 28 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng, ông Nguyễn Xuân Tung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 160/2024/HSST ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXST ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với:

- Bị cáo: Chu Đức N, sinh năm 1973, tên gọi khác: Không, nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Chu Đức K và bà Nguyễn Thị N1; vợ: Trần Thị N2; con: 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ: Từ ngày 28/7/2024 đến ngày 06/8/2024 chuyển sang tạm giam, hiện bị cáo đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị N2, sinh năm 1974, nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Uỷ quyền cho anh Lê Văn H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Phạm Thanh T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/7/2024 tại tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, tổ công tác Công an phường H tuần tra kiểm soát phát hiện 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô BKS 90H5 - 8053, có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, người đàn ông này tự thả trên tay trái xuống đường ngay vị trí đang đứng 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong bao thuốc lá có 01 gói giấy nhỏ màu trắng, có chứa chất bột màu trắng dạng cục, bột. Tại chỗ, người đàn ông này khai tên là Chu Đức N - SN 1973 trú tại thôn T, xã T, thị xã D, đồng thời khai nhận chất bột màu trắng bên trong gói giấy là ma tuý loại Heroin, N vừa mua của một người đàn ông không quen biết để về sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.

Vật chứng, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm: 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên ngoài không bọc nilong, kích thước (8,5x5,5x2) cm bên trong có 04 điếu thuốc lá và 01 gói giấy màu trắng kích thước (2,7x2,7) cm bên trong có chứa chất bột màu trắng được niêm phong bên trong phong bì dán kín ký hiệu “QT01”; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ đen, BKS: 90H5-8053, chiếc xe đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen, bên trong có 01 chiếc sim điện thoại nhà mạng Viettel số thuê bao 0984220573 được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu “QT02”. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chu Đức N tại Thôn T, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam: Cơ quan CSĐT Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam không thu giữ bất kỳ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản Kết luận giám định số 567/KL - KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục, bột trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,121g, loại: Heroine.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự: số 69/KL - HĐ ngày 24/10/2024 kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, BKS 90H5 - 8053 có số khung RLHHC120, 39Y026345, số máy HC12E - 1549648 đã qua sử dụng có giá trị 4.000.000 đồng.

Về nguồn gốc số ma túy Chu Đức N khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 28/7/2024, N một mình điều khiển xe Honda BKS 90H5-8053 đi từ nhà đến chợ H2 để mua thuốc cảm cúm rồi đi về. Trên đường về, N sử dụng điện thoại có tài khoản Zalo mang tên Chu Đức N gọi cho người đàn ông có tài khoản Zalo là “Cảm giác mới” để hỏi mua 250.000đ ma túy loại Heroin về sử dụng. Người đàn ông này đồng ý rồi chỉ cho N chỗ để ma túy ở khu vực vườn sắn của một nhà dân thuộc phường H N đi theo chỉ dẫn rồi nhặt bao thuốc lá bên trong có ma túy lên và để lại số tiền 250.000đ tại vị trí vừa nhặt bao thuốc lá. N cầm bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói giấy chứa H1 ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi đi đến khúc cua gần “cống bảy cửa” thuộc Tổ dân phố số D, phường H thì bị tổ công tác Công an phường H phát hiện bắt quả tang.

Về nguồn gốc số tiền 250.000 đồng dùng để mua ma túy, N khai nhận đó là tiền do bản thân lao động mà có.

Cáo trạng số 165/CT - VKS - DT ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Chu Đức N mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu 1/2 giá trị chiếc xe mô tô BKS 90H5 - 8053 để sung ngân sách nhà nước; trả lại cho chị Trần Thị N2 1/2 giá trị chiếc xe mô tô BKS 90H5 - 8053; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung; tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có số 567; ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về án phí đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Chu Đức N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất và không tranh luận gì.

Anh Lê Văn H là người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 28/7/2024, tại Tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, Chu Đức N có hành vi cất giữ trái phép 0,121 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương, hành vi cất giữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân của Chu Đức N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Chu Đức N đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ già yếu (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ nhận định trên, xét thấy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng vì vậy cần tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

Về các tình tiết khác: Đối với người đàn ông N khai đã bán ma túy cho N tại khu vực vườn sắn thuộc phường H, thị xã D nhưng N không biết rõ tên tuổi địa chỉ ở đâu. Ngoài lời khai của N thì không còn tài liệu nào khác để xác định về nhân thân, lai lịch của người đàn ông này, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ là có cơ sở.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ đen, BKS: 90H5-8053, chiếc xe đã qua sử dụng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tra cứu trong cơ sở xe máy vật chứng, kết quả tra cứu chiếc xe trên không phải là tang vật của vụ án, vụ việc nào, phiếu trả lời xác minh xe kết quả chủ xe là Chu Đức N, quá trình điều tra và tại phiên tòa: Chu Đức N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị N2 khai báo đây là tài sản chung của hai vợ chồng trong thời kì hôn nhân nhưng bị cáo đã sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô trên là có căn cứ.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen, bên trong có 01 chiếc sim điện thoại nhà mạng Viettel số thuê bao 0984220573 được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu “QT02”: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Chu Đức N khai báo đây là công cụ bị cáo đã dùng để liên lạc mua ma túy, do đó cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong có số 567/KTHS và dấu giáp lai của Phòng K1 - Công an tỉnh H: Đây là mẫu vật hoàn trả sau giám định ma túy, là vật chứng cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Chu Đức N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Chu Đức N 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2024. 2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có số 567/KTHS và dấu giáp lai của Phòng K1 - Công an tỉnh H.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung bên trong có 01 sim điện thoại.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô đã cũ, lốc xe ghi HonDa, số loại Wave S màu đỏ - đen gắn BKS 90H5-8053. (Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày 13/11/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo Chu Đức N phải nộp 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo; người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ