vanban.org

Bản án 165/2023/HSST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều O về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với anh Đoàn Trung H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn với anh Đoàn Trung H. Về con chung: Giao cháu Đoàn Gia H, sinh ngày 04/9/2019 và cháu Đoàn Khả Ái V, sinh ngày 01/7/2021 cho chị Nguyễn Thị Kiều O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Đoàn Trung H không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị O yêu cầu ly hôn anh H, có con chung, tài sản chung và nợ chung không có"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều O về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với anh Đoàn Trung H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Giang.

Ông Đặng Quang Hoạch.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Đăng Định – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 689/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08/9/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm: 1997.

Địa chỉ: Số 7/7, tổ 3, ấp H, xã H, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Đoàn Trung H, sinh năm: 1992.

Địa chỉ: Số 29/4, ấp L, xã T, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

(các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H tự nguyện tìm hiểu, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Trảng Bom vào năm 2019.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh H không quan tâm đến gia đình, thường xuyên ăn nhậu, chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H không thay đổi, mâu thuẫn kéo dài từ năm 2021 và cũng không chung sống từ thời gian này, hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đoàn Gia H, sinh ngày 04/9/2019 và cháu Đoàn Khả Ái V, sinh ngày 01/7/2021, ly hôn chị yêu cầu được nuôi hai cháu và tạm thời không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, chị đang sống cùng gia đình cha mẹ ruột và chị có công việc ổn định tại Công ty TNHH P với mức lương khoảng 8.000.000 đồng/tháng nên chị có điều kiện và khả năng để nuôi hai cháu, hơn nữa chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và lo tài chính để nuôi các cháu từ khi các cháu mới sinh cho đến nay.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì bận công việc gia đình nên chị xin vắng mặt tại các phiên tòa xét xử.

- Anh Đoàn Trung H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho đương sự và gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát không đảm thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị O là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị O được ly hôn với anh H. Về con chung: Giao con chung cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng và tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung đương sự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Chị O phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Nguyễn Thị Kiều O nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Đoàn Trung H, sinh năm: 1992, địa chỉ: Số 29/4, ấp L, xã T, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Về thủ tục tố tụng:

Chị O nộp đơn đúng trình tự thủ tục nên được thụ lý, giải quyết.

Chị O có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện:

3.1 - Về quan hệ hôn nhân:

Chị O và anh H tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được UBND xã T, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 59 ngày 12/8/2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, chị O kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh H, hiện nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, hôn nhân không hạnh phúc và đã không chung sống từ năm 2021. Đồng thời, Tòa án nhiều lần triệu tập anh H để làm việc nhưng anh H vắng mặt không có lý do, thể hiện việc anh H không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa anh H với chị O là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị O yêu cầu ly hôn với anh H là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị O.

3.2 - Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đoàn Gia H, sinh ngày 04/9/2019 và cháu Đoàn Khả Ái V, sinh ngày 01/7/2021. Trường hợp ly hôn chị O yêu cầu được nuôi hai cháu và không yêu cầu anh H cấp dưỡng. Xét thấy, chị O có công việc ổn định, chị nuôi dưỡng các cháu từ nhỏ nên giao hai cháu cho chị O tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp và đảm bảo các cháu có cuộc sống ổn định, tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

3.3 - Tài sản chung, nợ chung: Chị O trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 228, 264 và Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều O về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với anh Đoàn Trung H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn với anh Đoàn Trung H.

2. Về con chung: Giao cháu Đoàn Gia H, sinh ngày 04/9/2019 và cháu Đoàn Khả Ái V, sinh ngày 01/7/2021 cho chị Nguyễn Thị Kiều O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Đoàn Trung H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đoàn Trung H được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều O phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003194 ngày 28/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Chị Nguyễn Thị Kiều O đã nộp đủ án phí.

5. Chị Nguyễn Thị Kiều O, anh Đoàn Trung H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ