- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Đình C phạm tội "Cướp giật tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Đình C phạm tội “Cướp giật tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2023/HS-ST Ngày: 26/07/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Mai
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy An - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 07 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 154/2023/HSST ngày 15/06/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2023/QĐXXST-HS ngày 29/06/2023 đối với bị cáo:
Trịnh Đình C; Giới tính: Nam; sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Phường 16, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trịnh Đình L và bà Đỗ Hải V; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án: 03 tiền án. (1) Ngày 04/9/2014, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp tuyên xử 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 9/04/2015 chấp hành xong hình phạt tù. (Chưa thực hiện bồi thường dân sự). (2) Ngày 25/02/2016, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp tuyên xử 1 năm 6 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. đến ngày 27/05/2017 chấp hành xong hình phạt tù. (Chưa đóng án phí và chưa thực hiện bồi thường dân sự). (3) Ngày 29/10/2019, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp tuyên xử 2 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 19/07/2021 chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 09/02/2023 (có mặt).
Bị hại:
1/ Bà Nguyễn Thị H; sinh năm 1990; Địa chỉ: Phường 15, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
2/ Bà Đào Lý Thanh X, sinh năm: 1999, địa chỉ: Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
3/ Bà Trương Thị Tú Q, sinh năm 2004; Địa chỉ: Phường 07, quận Gò Vấp, Thành Phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ, ngày 05/02/2023, B (không rõ lai lịch) đặt xe ôm công nghệ đến nhà Trịnh Đình C tại địa chỉ Phường 16, quận Gò Vấp để rủ C đi cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy thì C đồng ý. Sau đó, B lấy ra 01 biển số 59P2-129.59 gắn vào xe máy Yamaha Acuzo màu đen của C. Sau khi lắp biển số xong C điều khiển xe chở B đi trên các tuyến đường địa bàn quận Gò Vấp để tìm kiếm người có tài sản thì cướp giật. Khi đi qua địa chỉ Phường 5, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh thì phát hiện chị Đào Lý Thanh X đang cầm điện thoại Iphone trên tay nên B đã yêu cầu C quay xe lại và áp sát người phụ nữ đó, B ngồi phía sau dùng tay giật điện thoại của chị X làm chị X té xuống đường rồi cả hai tăng ga tẩu thoát. Sau khi tẩu thoát thành công, C tráo lại biển số: 409.49 lắp lại trên xe máy Yamaha Acuzo, B lấy lại biển số: 59P2-129.59 và tháo ốp lưng của chiếc điện thoại vừa cướp giật được cho C cất giấu, rồi gọi cho một người nào đó và nói rằng chiếc điện thoại bán với giá 4.000.000 đồng và đưa cho C 2.000.000 đồng để tiêu xài. Sau đó, C về nhà tại địa chỉ Phường 17, quận Gò Vấp để nghỉ ngơi và cất giấu ốp lưng điện thoại vừa giật được. Qua truy xét, ngày 9/02/2023, Trịnh Đình C bị Công an quận Gò Vấp bắt giữ.
Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Đình C còn khai nhận C đã cùng B (chưa rõ lai lịch) đã thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản khác trên địa bàn quận Gò Vấp, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 14/11/2022, C điều khiển xe máy Yamaha, biển số 59P2-129.59 chở B khi đi ngang qua Phường 16, quận Gò Vấp thì phát hiện chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995, HKTT: Phước Hội, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận đang ngồi trên ghế đá sử dụng điện thoại nên C điều khiển xe áp sát cho B giật điện thoại Iphone Xs max của chị H rồi tăng ga tẩu thoát. B bán điện thoại và do thời gian đã lâu C không nhớ chính xác được chia bao nhiêu (khoảng 1.000.000 đồng).
Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ 14/11/2022, C điều khiển xe máy yamaha, biển số 59P2-129.59 chở B khi đi đến địa chỉ Phường 5, quận Gò Vấp phát hiện chị Trương Thị Tú Q, sinh năm 2004, HKTT: Phường 16, quận Gò Vấp đang ngồi trên xe máy sử dụng điện thoại di động nên B nói chính áp sát xe để B giật điện thoại thì C đồng ý. C điều khiển xe chạy áp áp sát bên phải ngược hướng với chị Q để B dùng tay phải giật điện thoại Iphone 13 promax của chị Q rồi tăng ga tẩu thoát. B bán điện thoại và chia cho C số tiền 4.500.000 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng tháng 12/2022, C điều khiển xe máy yamaha, biển số 59P2-129.59 chở B thực hiện cướp giật 01 điện thoại di động tại Phường 16, quận Gò Vấp do thời gian đã lâu nên C không nhớ chính xác địa điểm. Cơ quan điều tra tra đã tiến hành xác minh tại Phường 16, quận Gò Vấp nhưng không có bị hại nào đến trình báo vụ việc vào khoảng tháng 12/2022. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm bị hại nhưng không có ai đến liên hệ trình báo sự việc.
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 pro, dung lượng 128GB, số imei 356901458295390 (không thu hồi được) của chị Đào Lý Thanh X. Tại kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 15/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự cấp quận - UBND quận Gò Vấp kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, dung lượng 128 GB, số imei 356901458295390 đã qua sử dụng trị giá 23.733.333 đồng.
- 01 ốp lưng điện thoại di động Iphone 14 pro bằng nhựa trong suốt. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chị Đào Lý Thanh X.(BL:161).
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS max (không thu hồi được) của chị Nguyễn Thị H. Tại kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐĐGTS ngày 11/04/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự cấp quận - UBND quận Gò Vấp kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs max dung lượng 256GB đã qua sử dụng trị giá 4.733.333 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, dung lượng 256 GB, số imei 353324655645155 (không thu hồi được) của chị Trương Thị Tú Q.Tại kết luận định giá tài sản số 101/KL-HĐĐGTS ngày 29/05/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự cấp quận - UBND quận Gò Vấp kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, dung lượng 256GB, số imei 353324655645155 đã qua sử dụng trị giá 18.366.667 đồng.
- 01 áo thun màu xám, 01 áo khoác màu xanh dương, 01 quần sooc jean lửng màu xanh, 01 đôi dép tổ ong (dép kẹp) màu trắng; 01 đôi dép màu đen, 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen có chữ Vespa; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen có ký hiệu của thương hiệu Nike đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho bị can Chính.
- 01 xe máy Yamaha Acuzo màu đen, số máy: E3T9E-031236, số khung: RLCSEA910GY031233 (phương tiện gây án). Qua xác minh chiếc xe trên có biển số 47B2-088.51 do anh Lý Lâm S, sinh năm 1988, HKTT: phường Thành Nhất, Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, hiện đang sống tại xã Ia Nuôl, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk làm chủ sở hữu. Anh S khai chiếc xe trên anh mua năm 2016 và đã bị mất trộm vào tháng 2/2019. Khi bị mất trộm anh S không trình báo công an. Quá trình làm việc anh S có đơn từ chối nhận lại tài sản vì không còn nhu cầu sử dụng. Trịnh Đình C khai chiếc xe trên được một người bạn tên A (không rõ lai lịch) là bạn ngoài xã hội cho mượn sử dụng, C không nhớ biển số ban đầu vì khi đem về sử dụng C gắn biển số 59Y1-409.49 vào xe để đi lại.
- 01 biển số 59P2-129.59 (B sử dụng gắn vào xe Yamaha Acuzo không thu hồi được). Qua xác minh biển số xe trên là của xe Vision có số máy: JF58E0121889, số khung: RLHJF5802EY121822 do chị Nguyễn Thị Tố H, sinh năm 1982, địa chỉ; Phường 14, quận Tân Bình đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh chị H hiện không sinh sống tại địa phương nên không làm việc được.
- 01 biển số 59Y1-409.49 (C sử dụng gắn vào xe Yamaha Acuzo). Qua xác minh biển số xe trên là của xe Honda Wave S có số máy: JC52E4389386, số khung: RLHJC5219CY262152 do chị Trần Vũ Dạ M, sinh năm 1984, HKTT: xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị M khai bị mất xe trên tại xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn nhưng không trình báo Công an. Quá trình làm việc chị M từ chối nhận lại biển số xe trên do không còn nhu cầu sử dụng.
Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 61/LNK ngày 20/03/2022 và phiếu nhập kho vật chứng số 53/PNK ngày 28/03/2023.
Đối với đối tượng tên B cùng thực hiện hành vi cướp giật tài sản với C (chưa rõ lai lịch), khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Đối với vụ cướp giật tài sản xảy ra ngày 14/11/2022, chị Trương Thị Tú Q còn trình báo bị chiếm đoạt 22.000.000 đồng trong tài khoản ứng dụng mô mô sau khi bị mất điện thoại. Cơ quan điều tra đang tiếp tục phối hợp với các Cơ quan có liên quan để điều tra xác minh làm rõ số tiền chị Q bị chiếm đoạt, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với vụ cướp giật tài sản xảy ra tháng 12/2022 do C và B (chưa rõ lai lịch) thực hiện tại Phường 16, quận Gò Vấp không xác định được bị hại và không thu hồi vật chứng nên không đủ căn cứ để xử lý đối với vụ án trên.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Đào Lý Thanh X yêu cầu C bồi thường số tiền 29.000.000 đồng, chị Trương Thị Tú Q yêu cầu bồi thường số tiền 28.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị H không yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 152/Ctr-VKS ngày 13/06/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Trịnh Đình C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d,i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự .
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Trịnh Đình C từ 04 đến 05 năm tù.
- Tịch thu và tiêu hủy biển số 59Y1-40949.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước xe máy Yamaha Acuzo màu đen, số máy: E3T9E-031236, số khung: RLCSEA910GY031233.
- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 DVD ghi lại hình ảnh vụ việc cướp giật tài sản.
- Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo bồi thường cho bà Đào Lý Thanh X số tiền 29.000.000 đồng, bồi thường cho bà Trương Thị Tú Q số tiền 28.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Trịnh Đình C đã khai nhận hành vi cướp giật tài sản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Trịnh Đình C phạm tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 171 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Trịnh Đình C và đối tượng tên B sử dụng phương tiện xe gắn máy để đi cướp giật là dùng thủ đoạn nguy hiểm để phạm tội, vì hành vi này có thể xâm hại đến sức khỏe tính mạng của người bị hại và chính bản thân của bị cáo, có thể gây ra tai nạn làm chết người, gây mất trật tự an toàn giao thông, bị cáo sử dụng xe máy đi cướp giật điện thoại di động, mặt khác bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, phù hợp với qui định pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, giữa nơi công cộng đông người qua lại bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cướp giật tài sản rất táo bạo và liều lĩnh, bất chấp hậu quả xảy ra, qua đó thể hiện ý thức của bị cáo rất xem thường pháp luật, bị cáo liên tiếp cùng đối tượng tên B thực hiện 03 vụ cướp giật tài tài sản nên thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết: Tại cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên toà hôm nay, người bị hại bà Trương Thị Tú Q vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 28.000.000 đồng giá trị chiếc điện thoại bị cướp giật, bà Nguyễn Thị H không yêu cầu bị cáo bồi thường, bà Đào Lý Thanh X yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 29.000.000 đồng trị giá chiếc điện thoại bị cướp giật Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đồng ý bồi thường cho các bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy thỏa thuận trên không trái qui định của pháp luật nghĩ nên ghi nhận.
- Đối với vụ cướp giật chiếc điện thoại của bà Nguyễn Thị H, bị cáo được tên B chia 1.000.000 đồng, mặt dù bà H không yêu cầu bị cáo bồi thường, nhưng xét đây là tiền thu lợi bất chính, nên buộc bị cáo nộp lại để nộp ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng
- Đối với biển số 59Y1-40949 là giả không còn giá trị xử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hũy.
- Đối với xe máy Yamaha Acuzo màu đen, số máy: E3T9E-031236, số khung: RLCSEA910GY031233 qua xác minh không có giấy tờ hợp pháp và là phương tiện gây án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với đối tượng tên B cùng thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản với bị cáo C (chưa rõ lai lịch), khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Trịnh Đình C phạm tội “Cướp giật tài sản”;
Xử phạt bị cáo Trịnh Đình C 04(bốn) năm 09(chín) tháng tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày 09/02/2023.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy biển số 59Y1-40949.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước xe máy Yamaha Acuzo màu đen, số máy: E3T9E-031236, số khung: RLCSEA910GY031233.
- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 DVD ghi lại hình ảnh vụ việc cướp giật tài sản.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 53/PNK ngày 28/03/2023 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp).
- Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo bồi thường cho bà Đào Lý Thanh X số tiền 29.000.000 đồng, bồi thường cho bà Trương Thị Tú Q số tiền 28.000.000 đồng.
Kể từ ngày các bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thực hiện việc bồi thường, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 2.850.000(Hai triệu tám trăm năm mươi ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND TPHCM; -Viện kiểm sát quận Gò Vấp; -Công an quận Gò Vấp; -Chi cục thi hành án quận Gò Vấp; -Người tham gia tố tụng; -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tường Linh |