vanban.org

Bản án 165/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lương Thu Thủy T được ly hôn ông Trần Việt H. Về con chung: Giao 01 (Một) con chung là cháu Trần Đăng K, sinh ngày: 23/10/2017 cho bà Lương Thu Thủy T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, sau khi ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHATRANG
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 165/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22 tháng 9 năm 2023
V/v tranh chấp “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Ngọc Yến Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Có

Ông Nguyễn Văn Bạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Minh Tuấn – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 262/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lương Thu Thủy T - Sinh năm: 1993;

Địa chỉ: Số ...B Phùng H, phường Phước L, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Việt H - Sinh năm: 1984;

Địa chỉ: Số ...B Phùng H, phường Phước L, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Lương Thu Thủy T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Trần Việt H tự nguyện kết hôn năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phước Tân, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình chung sống, chúng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn do chồng tôi hay ghen tuông, thường xuyên đến cơ quan tôi đề quấy rối; Từ đó vợ chồng thường xuyên cải vã, nhiều lần chồng tôi đã đánh đập và lần gần đây nhất thì đánh tôi trước mặt con, làm con tôi bị ám ảnh tâm lý. Nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng tôi ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên tôi yêu cầu ly hôn với ông Trần Việt H.

Về con chung: Chúng tôi có 01 (Một) con chung là Trần Đăng K, sinh ngày: 23/10/2017. Tôi yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.

* Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Việt H nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể lấy lời khai của bị đơn cũng như không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Lương Thu Thủy T và bị đơn ông Trần Việt H đều vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, bà Lương Thu Thủy T được y hôn ông Trần Việt H; Về con chung: Giao cháu Trần Đăng K, sinh ngày: 23/10/2017 cho bà Lương Thu Thủy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau ly hôn; Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết. Án phí: Nguyên đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét ý kiến trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lương Thu Thủy T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Việt H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.

Về quan hệ hôn nhân và gia đình:

Bà Lương Thu Thủy T và ông Trần Việt H tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2017, tại Ủy ban nhân dân phường Phước Tân, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 66, ngày đăng ký: 08/8/2017. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Qua lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa bà Thủy T và ông H không hạnh phúc do ông Hải có tính ghen tuông, từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Trần Việt H đến Tòa để lấy lời khai, nhưng bị đơn cố tình trốn tránh, không thể hiện ý chí muốn níu kéo, đoàn tụ với nguyên đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy mục đích hôn nhân của bà Thủy T và ông H không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Lương Thu Thủy T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung:

Nguyên đơn bà Lương Thu Thủy T khai: Vợ chồng bà có 01 (Một) con chung là cháu Trần Đăng K, sinh ngày: 23/10/2017. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn.

Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu Đăng K đang sinh sống ổn định với mẹ là bà Lương Thu Thủy T; Cháu còn nhỏ nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Mặt khác, ông Trần Việt H không có lời khai, không thể hiện ý kiến về vấn đề con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là cháu Trần Đăng K, sinh ngày: 23/10/2017 cho bà Lương Thu Thủy T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau ly hôn, là hợp lý.

Về cấp dưỡng:

Bà Lương Thu Thủy T không yêu cầu ông Trần Việt H cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn khởi kiện.

Về tài sản chung, nợ chung:

Nguyên đơn bà Lương Thu Thủy T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên đương sự có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn khởi kiện.

Về án phí:

Bà Lương Thu Thủy T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà Thủy T đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0011278 ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà Lương Thu Thủy T đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lương Thu Thủy T được ly hôn ông Trần Việt H.

2. Về con chung: Giao 01 (Một) con chung là cháu Trần Đăng K, sinh ngày: 23/10/2017 cho bà Lương Thu Thủy T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, sau khi ly hôn.

Ông Trần Việt H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; Đồng thời, có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng: Nguyên đơn bà Lương Thu Thủy T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn khởi kiện.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng và người trực tiếp nuôi con chung.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên đương sự có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn khởi kiện.

5. Về án phí: Bà Lương Thu Thủy T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà Thủy T đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0011278 ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà Lương Thu Thủy T đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ