vanban.org

Bản án 165/2023/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các Điều 357, 430, 440 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 92 và khoản 1, 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Tr đối với anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Bé R. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Lê Văn Tr - Võ Minh Tr"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các Điều 357, 430, 440 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 165/2023/DS-ST
Ngày: 22-9-2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thành Chì

2. Ông Huỳnh Ngọc Sơn

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Kiến Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2023 về việc “ Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2023/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 103/2023/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Văn Tr, sinh năm: 1977.

Địa chỉ: ấp Th, xã T, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Anh Tr ủy quyền cho Lê Thị Thanh Nh, sinh năm 1990. Địa chỉ: khu phố 1, thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia tố tụng (văn bản ủy quyền ngày 29/12/2022).

2. Bị đơn: Anh Võ Minh T, sinh năm: 1977, chị Nguyễn Thị Bé R, sinh năm: 1987.

Cùng địa chỉ: ấp Q, xã Q, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

(Chị Nh có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T và chị R vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án đại diện nguyên đơn trình bày:

Từ ngày 19/4/2019 đến ngày 29/02/2020 ông Lê Văn Tr có bán thức ăn chăn nuôi tôm và vật tư, thuốc thủy sản cho ông Võ Minh T và bà Nguyễn Thị Bé R, việc nuôi tôm phục vụ kinh tế gia đình, Hình thức mua bán hai bên thỏa thuận bên bán trước sau đó tổng kết nợ thì ông T và bà R trả nợ. Đến ngày 29/02/2020 hai bên lập bảng chi tiết công nợ thì ông T, bà R còn thiếu số tiền 485.137.500 đồng và ông T có ký tên, ghi họ tên vào mục khách hàng. Từ ngày chốt nợ đến nay ông Lê Văn Tr nhiều lần nhắc nhở nhưng ông T và bà R không trả số tiền nêu trên.

Nay yêu cầu ông Võ Minh T và bà Nguyễn Thị Bé R có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Văn Tr số tiền 485.137.500 đồng và tính lãi từ thời điểm khởi kiện đến khi giải quyết xong vụ án với mức lãi suất 0,83%/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1 Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

1.2 Bị đơn có nơi cư trú tại xã Q, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú thụ lý đúng thẩm quyền.

1.3 Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn Võ Minh T và Nguyễn Thị Bé R đến lần thứ 2, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1, 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các bên đương sự.

[2] Về nội dung:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn liên đới nghĩa vụ trả số tiền nợ thức ăn gốc là 485.137.500 (Bốn trăm tám mươi lăm triệu một trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm) đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày khởi kiện đến khi xét xử với mức lãi suất 0,83%/tháng. Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là Chi tiết công nợ phải thu tính đến ngày 29/02/2020.

2.1 Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng cho anh T, chị R để tham gia phiên công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, anh T, chị R không có mặt nên không thể tiến hành hòa giải được. Ngoài ra, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh T, chị R để tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng anh T và chị R vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp cần buộc buộc anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Bé R có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Lê Văn Tr số tiền còn thiếu là 485.137.500 (Bốn trăm tám mươi lăm triệu một trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm) đồng là phù hợp.

2.2 Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Chi tiết công nợ phải thu tính đến ngày 29/02/2020 các bên không ghi có thỏa thuận lãi suất, nguyên đơn yêu cầu trả lãi suất tính từ ngày khởi kiện đến khi xét xử với mức lãi suất là 0,83%/tháng. Do các bên không thỏa thuận có lãi suất nên phát sinh tranh chấp về lãi suất, căn cứ vào khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn (không vượt quá 10%/năm của khoản tiền vay, tương đương 0,83%/tháng). Đến hạn trả tiền nhưng bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên nguyên đơn có quyền được yêu cầu trả tiền lãi tương ứng với thời gian chậm trả của bị đơn, yêu cầu của nguyên đơn về lãi suất là 0,83%/tháng là không vượt quá mức lãi suất quy định. Do đó, số tiền lãi được xác định như sau:

Từ ngày 29/12/2022 đến ngày 22/9/2023: Số tiền 485.137.500 đồng x 0,83% x 08 tháng 23 ngày = 35.300.000 đồng.

Từ những phân tích trên, cần buộc anh T, chị R có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Lê Văn Tr tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 22/9/2023 là: 485.137.500 đồng + 35.300.000 đồng = 520.437.500 đồng là phù hợp.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[4] Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 357, 430, 440 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

- Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 92 và khoản 1, 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Tr đối với anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Bé R.

Buộc anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Bé R có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Lê Văn Tr số tiền là 520.437.500 (Năm trăm hai mươi triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.

Kể từ khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 24.817.500 (Hai mươi bốn triệu tám trăm mười bảy nghìn năm trăm) đồng, anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Bé R có nghĩa vụ liên đới nộp. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hoàn lại cho anh Lê Văn Tr số tiền 11.702.000 (Mười một triệu bảy trăm lẽ hai nghìn) đồng theo biên lai số 0001865 ngày 20/02/2023.

3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”. Nơi nhận:

Cỡ chữ