vanban.org

Bản án 165/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 25/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Tường L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Tường L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 8 năm 2021. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Tường L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Tường L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2022/HS-ST
Ngày: 25 - 4 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Công Danh;

2. Bà Tều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thìn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 4 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 128/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 390/2022/HSST-QĐ ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với:

Bị cáo Vũ Tường L; Tên gọi khác: T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1982, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Khóm B, thị trấn C, huyện D, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: K; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Vũ Hạnh P, sinh năm 1951 (còn sống); Họ tên mẹ: Huỳnh Bê Đ, sinh năm 1953 (còn sống); Gia đình có 03 (ba) chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Họ tên vợ: Huỳnh Mỹ D, sinh năm: 1983 (đã ly hôn); Họ tên con: Vũ Mạnh Q, sinh năm: 2009;

Tiền án:

- Ngày 26 tháng 4 năm 2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” (chấp hành xong bản án ngày 19 tháng 4 năm 2016).

- Ngày 27 tháng 02 năm 2016, bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù và phạt bổ sung 10.000.000đ (mười triệu đồng) về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 18 tháng 9 năm 2018 và chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung).

- Ngày 04 tháng 9 năm 2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 16 (mười sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 23 tháng 4 năm 2021).

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 10 tháng 9 năm 1999, bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xử phạt 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Trộm cắp tài sản công dân”, thời hạn thử thách là 12 tháng.

- Ngày 18 tháng 5 năm 2001, bị Ủy ban nhân dân thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

- Ngày 30 tháng 8 năm 2010, bị Ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh, giáo dục thời hạn 24 tháng về hành vi “Nghiện ma túy” (chấp hành xong ngày 01 tháng 8 năm 2014).

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 15 tháng 8 năm 2021, chuyển tạm giam ngày 23 tháng 8 năm 2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Khoảng 13 giờ ngày 15 tháng 8 năm 2021, Vũ Tường L đi bộ đến khu vực gần cầu Đồng Nai, thuộc khu phố Bình Dương, phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mua của T (không rõ lai lịch, địa chỉ) 04 (bốn) tép Heroin được cất giấu trong vỏ thuốc lá hiệu Caraven với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) để sử dụng.

Khoảng 15 giờ cùng ngày, L cất giấu 04 (bốn) tép Heroin bỏ trong vỏ gói thuốc lá hiệu Caraven ở túi quần phía sau bên phải của L đang mặc và đi về đến khu vực thuộc tổ 4, khu phố 2A, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa thì bị tổ phòng chống dịch Covid – 19 Công an phường Trảng Dài phát hiện và bắt quả tang.

- Vật chứng thu giữ gồm:

+ 04 (bốn) đoạn ống hút nước giải khát màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất bột màu trắng (niêm phong gửi giám định có chữ ký của Vũ Tường L và hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Trảng Dài).

+ 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) của chị Vũ Điệp C (chị gái L) đưa cho L nhờ mua tủ lạnh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho chị C.

- Tại Bản kết luận giám định số 1688/KLGĐ-PC09 ngày 20 tháng 8 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận như sau: “Mẫu chất bột màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,1209 gam, loại: Heroin (Heroine)”.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 69/CT-VKSBH-HS ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Vũ Tường L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm o Khoản 2 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Vũ Tường L 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù giam.

Bị cáo Vũ Tường L có mặt không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

3. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 15 giờ ngày 15 tháng 8 năm 2021, tại khu vực bờ kè thuộc tổ 4, khu phố 2A, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Vũ Tường L có hành vi tàng trữ trái phép 0,1209 gam ma túy loại Heroin (Heroine) thì bị Công an phường Trảng Dài phát hiện bắt quả tang.

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Vũ Tường L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản cáo trạng số 69/CT-VKSBH-HS ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng. Bị cáo nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

- Về nhân thân: Trước đó bị cáo L đã từng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản công dân” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Vũ Tường L để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

Về các vấn đề khác:

Đối với đối tượng T (không rõ lai lịch, địa chỉ) có hành vi bán ma túy cho L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

Đối với vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xảy ra ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại khu phố 4, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã xét xử đối với bị cáo Vũ Tường L ngày 04 tháng 9 năm 2020, theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (do hồ sơ thể hiện bị cáo L không có tiền án). Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã tổng hợp báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Về vật chứng:

Vật chứng được kết luận là ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Vũ Tường L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa:

- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt là phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

- Đối với phần trình bày của bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm 0 khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

- Tuyên bố bị cáo Vũ Tường L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Vũ Tường L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 8 năm 2021.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định được đựng trong phong bì có đóng dấu niêm phong số 1688/KLGĐ-PC09 ngày 23 tháng 8 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai. Vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi Cục T hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11 tháng 02 năm 2022.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Buộc bị cáo Vũ Tường L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Bị cáo Vũ Tường L được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ