vanban.org

Bản án 165/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 21/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Quang L 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Trần Quang L không phải chịu án phí HSPT. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Quang L 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NH ĐỊNH
[

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2022/HS-PT
Ngày: 21.9.2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Duy.

Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Việt - Thư ký TAND tỉnh Bình Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà

Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 136/2022/TLPT-HS ngày 24 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo Trần Quang L do có kháng cáo của bị cáo Trần Quang L đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 140/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z, tỉnh Bình Định.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Quang L, giới tính: Nam; sinh năm 1993 tại Phú Thọ; Nơi cư trú: M xã N, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: H, sinh năm 1958 và bà: I, sinh năm 1962; Vợ: K, sinh năm 1998, có 02 người con sinh năm 2018 và năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh M, sinh năm 1978 (Có mặt).

Nơi cư trú: X, thị trấn Y, huyện Z, tỉnh Gia Lai.

Chỗ ở: Z, thị trấn Y, huyện Z, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 25/3/2019, chị H cùng với anh M, chị I, anh K, anh L, anh M, anh N và chị O đi nhậu, hát karaoke tại thành phố Z. Đến khoảng 01 giờ ngày 26/3/2019 tất cả đi về, chị M điều khiển xe môtô chở anh K, anh M điều khiển xe môtô chở anh L về phường Y thuê phòng nghỉ, còn anh M điều khiển xe môtô chở chị H, anh M điều khiển xe môtô chở chị O đi mua hải sản. Khi đi đến Ngã 3 X – Y thì xe môtô do anh M điều khiển va chạm với xe môtô do chị M điều khiển làm anh M bị xây xước da ở vùng má trái, chảy máu ở môi. Lúc này, anh U, Trần Quang L đi trên đường nhìn thấy nên anh U đi đến đỡ anh M đến ngồi ở dải phân cách trên đường. Do bị ngã xe nên anh L bực tức chửi chị M, chị M chửi lại và lấy dép ném về phía anh L nhưng trúng Trần Quang L nên giữa chị M và L xảy ra cãi nhau, L đánh M 01 cái vào mặt. Thấy chị M bị đánh nên anh K đến tranh cãi và xô xát với L rồi hai người lấy đá ném vào nhau. Khi biết 02 xe môtô va chạm thì chị O, anh M, chị H và anh M đi đến Ngã 3 X – Y. Thấy có nhiều người đến nên L bỏ chạy bộ về hướng biển và điện báo cho L2 biết việc bị đánh ở Ngã 3 X-Y, L2 thông báo lại cho G, H, S và P biết và tìm hung khí đi bênh vực Trần Quang L. H điều khiển xe môtô kẹp cây kiếm (dài 85cm gồm thanh kiếm và vỏ kiếm, thanh kiếm gồm lưỡi kiếm kim loại màu trắng sáng dài 60cm, phần cán kim loại màu đồng chạm trổ hoa văn dài 25cm, vỏ kiếm làm bằng kim loại màu đồng chạm trổ hoa văn) để bên hông xe chở P ngồi giữa và G cầm 01 tuýp sắt ngồi sau, L2 điều khiển xe môtô BKS 29H1-107.50 chở S cầm theo 01 cây phát lang (dài 65cm, lưỡi bằng kim loại rộng 05cm, dài 40cm, cán bằng gỗ tròn dài 25cm) đến Ngã 3 X -Y thì Trần Quang L chỉ vào nhóm anh M cho cả bọn biết. Thấy nhiều người cầm theo hung khí đến nên những người trong nhóm của anh M bỏ chạy theo nhiều hướng khác nhau. Anh M bỏ chạy về hướng đường K thì bị G cầm tuýp sắt, H cầm thanh kiếm và P cầm vỏ kiếm chạy đuổi theo anh M, khi bỏ chạy được khoảng 50m thì anh M nhảy qua giải phân cách giữa đường nhưng bị G cầm tuýp sắt đánh trúng vào vai phải làm anh M ngã xuống đường, rồi tiếp tục dùng tuýp sắt đánh vào chân anh M, H cầm kiếm chém vào vùng đầu, chân trái, chân phải, rồi dùng chân đạp nhiều cái vào đầu anh M, P cầm vỏ kiếm đánh vào vùng ngực anh M, khi thấy anh M nằm bất động thì L, G và P dừng lại không đánh nữa. L2, S và Trần Quang L rượt đuổi những người còn lại, anh M chạy không kịp nên bị đánh bằng tay chân nằm tại trước nhà số xxx.

Ngày 28/3/2019, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định có văn bản số 71/2019/PY-TgT kết luận thương tích của anh M, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 48%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 140/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z đã quyết định:

- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự (áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự các bị cáo L2, S).

Tuyên bố các bị cáo Trần Quang L, L2, S phạm tội: "Cố ý gây thương tích".

1. Xử phạt bị cáo Trần Quang L 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Xử phạt bị cáo L2 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2021.

3. Xử phạt bị cáo S 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2021.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

- Ngày 12.7.2022, bị cáo Trần Quang L kháng cáo kêu oan. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Tại phiên toà, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, giảm hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo L 04 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:

Bị cáo Trần Quang L không mâu thuẫn với bị hại M. Thấy anh M bị ngã xe nên bị cáo đến đỡ dậy thì M với bị cáo xảy ra mâu thuẫn. Do bị cáo sợ bị đánh nên bỏ chạy và gọi các bị cáo khác đến cầm theo kiếm, tuýp sắt, phát lang chạy đến đuổi chém đánh anh M gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 48%. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ đúng pháp luật.

Kháng cáo của bị cáo Trần Quang L trong hạn luật định nên chấp nhận. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Quang L HĐXX thấy rằng:

Bị cáo Trần Quang L tham gia trong vụ án với vai trò người khởi xướng rủ rê các bị cáo khác, mặc dù thương tích của anh M không do bị cáo gây ra nhưng bị cáo L phải chịu K quả do đồng phạm gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm chứng cứ gia đình bị cáo có công cách mạng; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì mục đích ban đầu là bị cáo chỉ đến giúp bị hại, nhưng do K đánh bị cáo nên mới xảy ra vụ án. Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang L, sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Quang L 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Trần Quang L không phải chịu án phí HSPT.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ