- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Kim H - Vũ Thùy L"
- Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa anh Đặng Kim H và chị Vũ Thùy L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự giải; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TPNĐ TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2022/HNGĐ-ST Ngày: 21-6-2022 V/v ly hôn giữa anh Đặng Kim H và chị Vũ Thùy L |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TPNĐ - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Anh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quang Chung
Bà Trịnh Thị Kim Cúc
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Phương Thủy – Thư ký Toà án nhân dân TPNĐ.
Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân TPNĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2022 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đặng Kim H, sinh năm 1990; chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx; Địa chỉ cư trú: Thôn Sơn Đ (nay là tổ dân phố Sơn Đ), thị trấn Đại Đ, Hện Tam Đ, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Vũ Thùy L, sinh năm 1992; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Số nhà 8/13/73 đường Nguyễn H, phường Trần Đăng N, TPNĐ, tỉnh Nam Định; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là anh Đặng Kim H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vũ Thùy L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân phường Trần Đăng Ninh, TPNĐ vào ngày 17-10-2019. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vấn đề kinh tế, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp. Vợ chồng đã có nhiều biện pháp giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2021 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Vũ Thùy L không có con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự khai ngày 23-5-2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là chị Vũ Thùy L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị thống nhất về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn của vợ chồng như anh Đặng Kim H trình bày. Sau khi đăng ký kết hôn chị và anh Đặng Kim H sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng không hiểu nhau. Vợ chồng đã cũng đã có biện pháp khắc phục mâu thuẫn nhưng vẫn không có kết quả. Chị và anh H đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2021 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay anh Đặng Kim H đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn chị không nhất trí ly hôn vì giữa chị và anh H còn có khúc mắc về vấn đề kinh tế. Nếu anh H giữ lời hứa với chị hỗ trợ chị một khoản tiền theo thỏa thuận để chị làm kinh tế thì chị nhất trí ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Đặng Kim H không có con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
1.1. Về tranh chấp được giải quyết trong vụ án:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là anh Đặng Kim H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn chị Vũ Thùy L, bị đơn là chị Vũ Thùy L không có yêu cầu phản tố. Do vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “ly hôn”.
1.2. Về sự vắng mặt của đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn là anh Đặng Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự giải quyết vụ án vắng mặt anh H.
Về nội dung tranh chấp trong vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Anh Đặng Kim H và chị Vũ Thùy L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường Trần Đăng Ninh, TPNĐ vào ngày 17-10-2019. Như vậy hôn nhân giữa anh Đặng Kim H và chị Vũ Thùy L là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn anh Đặng Kim H và chị Vũ Thùy L đều khai do vấn đề kinh tế. Vợ chồng đã nhiều lần tìm biện pháp khắc phục để cùng nhau chung sống nhưng không có kết quả. Anh Đặng Kim H và chị Vũ Thùy L đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2021 đến nay và không quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Đặng Kim H và chị Vũ Thùy L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Kim H, xử ly hôn giữa anh Đặng Kim H và chị Vũ Thùy L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.2. Về nuôi con: Anh Đặng Kim H và chị Vũ Thùy L không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:
Anh Đặng Kim H và Chị Vũ Thùy L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí Dân sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV: Anh Đặng Kim H là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí anh Đặng Kim H đã nộp được khấu trừ vào án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV;
1. Xử ly hôn giữa anh Đặng Kim H và chị Vũ Thùy L.
2. Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Đặng Kim H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005281 ngày 19-5-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự TPNĐ.
3. Anh Đặng Kim H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Chị Vũ Thùy L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát nhân dân TP. NĐ; - Chi cục Thi hành án Dân sự TP. NĐ; - UBND phường Trần Đăng N, TP. NĐ (Bản sao trích lục kết hôn số 115/TLKH-BS ngày 17- 5-2022) - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Mai Anh |