- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa nguyên đơn Võ Thị Mỹ H và bị đơn Trình Quốc H1"
- Tòa quyết gì? Cho chị Võ Thị Mỹ H được ly hôn anh Trình Quốc H1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2022/HNGĐ-ST Ngày 23-5-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂNDANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Phương.
2. Ông Nguyễn Văn Tôn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Định – Kiểm sát viên.
Ngày 23tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2022, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theoQuyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Mỹ H, sinh năm 1990; địa chỉ: Số nhà 53, đường B, thôn 4, xã D, huyện D1, tỉnh Khánh Hòa; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh TrìnhQuốc H1, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng12 năm 2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụán,nguyên đơn chị Võ Thị Mỹ Htrình bày: Chị và anh Trình Quốc H1quen biết nhau từ năm 2010. Đến năm 2016 thì tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Diên Phú, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống tại nhà cha mẹ chị. Thời gian sống chung giữa chị và anh H1 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân vì anh H1 thường xuyên ăn nhậu, chơi chứng khoán, vay mượn tiền bên ngoài nhưng không nói cho chị biết. Đến tháng 6/2019 thì mâu thuẫn giữa vợ chồng chị trầm trọng, không còn sự tôn trọng, tin tưởng nhau.Để tạo điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị đã cùng anh H1 chuyển ra ngoài thuê trọ sinh sống nhưng tình trạng không cải thiện.Từ tháng 3 năm 2021 đến nay thì vợ chồng chị đã sống ly thân. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1 vì không thể hàn gắn được nữa.
Về con chung: Chị và anh H1 có 01 con chung là cháu Trình Phúc K, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2017. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 06 tháng 01 năm 2021, bị đơn anh Trình Quốc H1trình bày: Anh thống nhất về quá trình đi đến hôn nhân, tình trạng hôn nhân và con chung như chị Võ Thị Mỹ H trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh là vì trong thời gian sống tại nhà chị H, anh và chị H có mâu thuẫn nên chị H đuổi anh ra ngoài.Vì tự trọng nên anh chuyển ra ngoài sinh sống. Sau đó anh về thăm con thì gia đình vợ ngăn cản. Đến năm 2020, vợ chồng anh thuê nhà sống riêng nhưng vì công việc của anh gặp khó khăn, không thể đảm bảo điều kiện kinh tế cho vợ con nên mang xe và điện thoại đi cầm cố. Vì vậy mà chị H chuyển về nhà cha mẹ sinh sống và chặn liên lạc của anh.Từ tháng 4 năm 2021 anh làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh. Nay chị H xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn mà mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng lo cho con.
Tại phiên Toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phướcphát biểu: Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.Đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị H được ly hôn, giao con chung cho chị Hchăm sóc, nuôi dưỡng; anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Võ Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với anh Trình Quốc H1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H1 đang cư trú tại Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nêntheo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H1vẫn vắng mặt không có lý do. Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, áp dụng Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh H1.
Về hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ H và anh Trình Quốc H1 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 15 tháng 11 năm 2016 tại UBND xã Diên Phú, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa nên hôn nhân giữa chị H, anh H1là hôn nhân hợp pháp. Chị H yêu cầu ly hôn nhưng anh H1 không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời kỳ hôn nhân, giữa chị H và anh H1 nhiều lần xảy ra mâu thuẫn mà nguyên nhân xuất phát từ lỗi của anh H1. Mặc dù chị H đã tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn bằng việc chuyển ra ngoài sống riêng nhưng tình trạng hôn nhân không được cải thiện. Là vợ chồng nhưng chị H và anh H1 đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Anh H1 yêu cầu được đoàn tụ nhưng không đưa ra được phương án cụ thể và quan trọng hơn là chị H không đồng ý đoàn tụ. Điều đó có thể chứng minh tình trạng hôn nhân giữa chị H, anh H1đã lâm vào tình trạng trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị H được ly hôn anh H1.
Về quan hệ con chung: Chị H, anh H1 có 01 con chung là cháu Trình Phúc K, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian sống ly thân,chị H là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Kvà vẫn đảm bảo điều kiện để cháu được phát triển bình thường. Do đó,áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu K cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung và nợ:Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Theo quy định tạiĐiều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Võ Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81,các Điều 82, 83, 84của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1.Cho chị Võ Thị Mỹ H được ly hôn anh Trình Quốc H1.
2. Giao con chung là cháu Trình Phúc K, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2017cho chị Võ Thị Mỹ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu K đang sống với chị H.
Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3.Về án phí:Chị Võ Thị Mỹ H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạmứngán phímà chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số0006016ngày19 tháng 01 năm 2022 củaChi cục Thi hànhán dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Tuy Phước; - CC THADS huyện Tuy Phước; - UBND X. Diên Phú, H. Diên Khánh (Số 56/2016); - Lưu hồ sơ vụán. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Quyên |