vanban.org

Bản án 165/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông H V P với bà N T K D.

Về con chung: Giao con chung tên H T K, giới tính nữ, sinh ngày 25/3/2013 cho bà N T K D nuôi dưỡng, ông H V P không cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông H V P với bà N T K D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2022/HNGĐ-ST
Ngày 23 tháng 9 năm 2022
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Hồng Ân.

Bà Đoàn Thị Sim.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vui – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Võ Việt Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 136/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 406/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 285/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông H V P; Sinh năm 1993 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp CN, xã TH, huyện PT, tỉnh CM.

- Bị đơn: Bà N T K D; Sinh năm 1993 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp CN, xã TH, huyện PT, tỉnh CM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 4 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông H V P trình bày:

Về hôn nhân: Ông H V P và bà N T K D sống chung với nhau như vợ chồng năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hải, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau ngày 21/9/2015 (Giấy chứng nhận kết hôn số 84/2015). Quá trình sống chung với nhau thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cự cải, xúc phạm lẫn nhau, do đó vợ chồng không còn tình cảm dành cho nhau, không còn sự quan tâm, chia sẽ cho nhau; vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2017 đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được do mâu thuẫn đã trầm trọng. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà N T K D.

Về con chung: Quá trình sống chung giữa ông H V P và bà N T K D có 01 người con tên H T K, giới tính nữ, sinh ngày 25/3/2013 hiện do bà N T K D nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ông yêu cầu giao con cho bà N T K D nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về nợ chung, tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn bà N T K D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà N T K D vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của ông H V P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông H V P cho ông H V P được ly hôn với bà N T K D. Giao con chung tên H T K, sinh ngày 25/3/2013 (Giới tính Nữ) cho bà N T K D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông H V P không cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nội dung tranh chấp giữa ông H V P với bà N T K D được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà N T K D là bị đơn có nơi cư trú tại xã Tân Hải, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, theo khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án ông H V P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà N T K D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà N T K D.

[3] Về hôn nhân: Ông H V P với bà N T K D sống chung với nhau như vợ chồng năm 2012, đến ngày 21/9/2015 ông H V P với bà N T K D mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hải, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 84/2015), do đó hôn nhân của ông H V P với bà N T K D là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án ông H V P xác định quá trình sống chung với nhau, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà N T K D. Đối với bà N T K D, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng bà N T K D vẫn vắng mặt không lý do, không cung cấp tài liệu, lời khai và chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện của ông H V P nên bà N T K D tự chịu hậu quả của việc không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

Hội đồng xét xử nhận thấy, ông H V P đã gửi đơn yêu cầu ly hôn với bà N T K D một thời gian dài nhưng bà N T K D không có ý kiến gì, điều đó cho thấy bà N T K D không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa ông H V P với bà N T K D đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ông H V P được ly hôn với bà N T K D.

[4] Về con chung: Quá trình sống chung giữa ông H V P và bà N T K D có 01 người con tên H T K, giới tính nữ, sinh ngày 25/3/2013 hiện do bà N T K D nuôi dưỡng. Ông yêu cầu khi ly hôn giao con cho bà N T K D nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án bà N T K D không có ý kiến gì về yêu cầu của ông H V P giao con cho bà N T K D nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, theo lời trình bày của ông H V P thì con chung tên H T K hiện do bà N T K D đang trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời tại bản tự khai ngày 25/4/2022, H T K có nguyện vọng muốn được sống chung với mẹ là bà N T K D. Để ổn định về mặt tâm lý, cũng như không làm xáo trộn đời sống của cháu H T K, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của ông H V P giao con chung tên H T K, giới tính nữ, sinh ngày 25/3/2013 cho bà N T K D nuôi dưỡng, ông H V P không cấp dưỡng nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung nếu sau này có tranh chấp thì bà N T K D có quyền khởi kiện yêu cầu ông H V P cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình ông H V P phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 212, 147, 207, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông H V P với bà N T K D.

2. Về con chung: Giao con chung tên H T K, giới tính nữ, sinh ngày 25/3/2013 cho bà N T K D nuôi dưỡng, ông H V P không cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

4. Án phí:

- Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình: Ông H V P phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 28/4/2022, ông H V P đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai số 0017815 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu.

Ông H V P, bà N T K D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ