vanban.org

Bản án 165/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[2] Về con chung: Bà P T P L được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên L T C T, sinh ngày 26-9-2010 và L T T, sinh ngày 02-7-2014.

Bà P T P L và các thành viên trong gia đình bà L không được cản trở ông L T N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông L T N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Phạm Thị Phượng Liên với ông Lương Thanh Nghiêm"
  • Tòa quyết gì? [2] Về con chung: Bà P T P L được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên L T C T, sinh ngày 26-9-2010 và L T T, sinh ngày 02-7-2014.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30-11-2022
V/v Ly hôn giữa bà L và ông N.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Phúc

Ông Bùi Anh Tấn

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 356/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 203/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà P T P L, sinh năm 1993

CMND số xxxxxxxxx do công an tỉnh An Giang cấp ngày 28-4-2017

Nơi cư trú: Tổ 11, ấp V P, xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 05-8-2022

2.Bị đơn: Ông L T N, sinh năm 1991

CMND số xxxxxxxxx do công an tỉnh An Giang cấp

Nơi cư trú: Tổ 11, ấp V P, xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn, Bản tự khai ngày 22-6-2022, Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 05-8-2022, nguyên đơn bà P T P L trình bày: +Về hôn nhân: Bà và ông L T N kết hôn năm 2009, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang số 167/2012 Quyển số 01/2012 ngày 12-10-2012. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, không tìm được hạnh phúc. Đến năm 2020, sau khi mua máy gặt đập liên hợp, ông N đi cắt lúa thuê và từ đó bỏ bê vợ con. Từ tháng 5/2022 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông N, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xin ly hôn với ông L T N. +Về con chung: Có 02 con chung tên L T C T, sinh ngày 26-9-2010 và L T T, sinh ngày 02-7-2014. Hiện bà đang nuôi con. Nếu ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con. +Về cấp dưỡng nuôi con: Bà yêu cầu ông Nghiêm cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. +Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. +Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và 2 lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông L T N, nhưng ông N vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 05-8-2022, cháu L T C T trình bày: Cháu tên L T C T, sinh ngày 26-9-2010, cháu đang sống với mẹ, cháu có đi học, cháu 6 trường Trung học cơ sở V H, xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang. Cháu biết việc mẹ cháu xin ly hôn cha cháu. Nếu cha mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng sống với mẹ. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 05-8-2022, cháu L T T trình bày: Cháu tên L T T, sinh ngày 02-7-2014, cháu đang sống với mẹ, cháu có đi học, cháu 2 trường Tiểu học B V H, xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang. Cháu biết việc mẹ cháu xin ly hôn cha cháu. Nếu cha mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng sống với mẹ. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát biểu quan điểm như sau: 1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung tiếp tục ổn định cho bà L nuôi 02 con. Buộc ông N cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn bà P T P L, bị đơn ông L T N, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa; nguyên đơn bà L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông N vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với nguyên đơn bà L và bị đơn ông N.

[2] Về hôn nhân: Bà P T P L và ông L T N kết hôn năm 2009, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang số 167/2012 Quyển số 01/2012 ngày 12-10-2012 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Bà L có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hàn gắn lại tình cảm giữa bà L và ông N, nhưng bà L có đơn xin không tham gia hòa giải, ông N nhiều lần vắng mặt nên không hòa giải được.

Xét thấy: Từ tháng 5/2022 giữa bà L và ông N phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, không tìm được hạnh phúc. Từ tháng 5/2022 bà L và ông N sống ly thân cho đến nay. Từ khi sống ly thân cho đến nay cả bà L và ông N đều không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà L được ly hôn với ông N là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Bà L và ông N có 02 con chung. Hiện bà L đang nuôi con. Khi ly hôn bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con. Ông N không có ý kiến.

Xét thấy: Cháu T đã trên 12 tuổi, cháu T đã hơn 8 tuổi, hiện bà L nuôi con chu đáo, cả 2 cháu đều có nguyện vọng sống với bà L khi bà L và ông N ly hôn. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống cũng như sự phát triển tâm sinh lý của cháu; Hội đồng xét xử xét thấy nên để cho bà L được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Ông N không có ý kiến. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử xem xét buộc ông N cấp dưỡng nuôi con bằng ½ mức lương cơ sở trên tháng, trên 01 con chung, theo từng thời điểm lương. Thời điểm cấp dưỡng lần đầu vào ngày 30-11-2022 cho đến khi cháu L T C T, sinh ngày 26-9-2010 và cháu L T T, sinh ngày 02-7-2014 tròn 18 tuổi; bà L đại diện nhận. [5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà L trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông N không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Nguyên đơn bà L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002636 ngày 13-7-2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Bị đơn ông N phải chịu 300.000 án phí cấp dưỡng nuôi con. [7] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn bà L, bị đơn ông N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Các Điều 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Xử: [1] Về hôn nhân: Bà P T P L được ly hôn với ông L T N. Giấy chứng nhận kết hôn số 167/2012 Quyển số 01/2012 ngày 12-10-2012 của UBND V H, huyện C T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung: Bà P T P L được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên L T C T, sinh ngày 26-9-2010 và L T T, sinh ngày 02-7-2014.

Bà P T P L và các thành viên trong gia đình bà L không được cản trở ông L T N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông L T N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà L có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của ông N theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông L T N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con bằng ½ mức lương cơ sở trên tháng, trên một con chung, theo từng thời điểm lương. Thời điểm cấp dưỡng lần đầu vào ngày 30-11-2022 cho đến khi cháu L T C T, sinh ngày 26-9-2010 và cháu L T T, sinh ngày 02-7-2014 tròn 18 tuổi; bà P T P L đại diện nhận.

[4] Về án phí:

Nguyên đơn bà P T P L phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002636 ngày 13-7-2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Bị đơn ông L T N phải chịu (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà P T P L, bị đơn ông L T N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ