- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2021/HS-ST Ngày: 24 - 6 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thanh Mai
2. Bà Hồ Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Phương Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Kiêu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2021/TLST- HS ngày 28 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2021/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trọng Q (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 10 tháng 5 năm 1967 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: tổ 4, khu 1, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Trọng Q1, sinh năm: 1938 (đã chết); con bà Nguyễn Thị G (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1970; Có 02 con, lớn sinh năm: 1992, nhỏ sinh năm: 2000; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/02/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 09/01/2016 chấp hành hình phạt tù trở về địa phương. Ngày 13/6/2014 đã thi hành xong phần án phí của bản án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 06/4/2021 đến ngày 15/4/2021 chuyển sang tạm giam, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh – Sinh năm: 1992 Trú tại: tổ 4, khu 1, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh Chỗ ở hiện nay: số nhà 11,12, khu 6A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh Có mặt.
- Những người chứng kiến:
+ Anh Nguyễn Trọng D– Sinh năm: 1986 Trú tại: số nhà S6/403 chung cư S, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh Vắng mặt.
+ Anh Đặng Quang Tr– Sinh năm: 1998 Trú tại: tổ 5, khu 1, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 50 phút ngày 06/4/2021, tại khu vực tổ 5, khu 7, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, trong khi làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Nguyễn Trọng Qcó hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại mặt đất nơi Q đứng 01 túi nilon màu đen, bên trong có chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1); Thu giữ tại gầm ghế lái xe ô tô Kia biển kiểm soát 14D- 007.49 do Q lái 01 túi nilon màu trắng KT (3 x 5)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2). Ngoài ra Công an còn thu giữ của Q 02 điện thoại OPPO màu xanh đen và 01 xe ô tô Kia biển kiểm soát 14D- 007.49.
Tại bản kết luận giám định số: 708/KLGĐ ngày 12/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh QNinh kết luận: mẫu vật thu giữ của Nguyễn Trọng Q ký hiệu M1, M2 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng M1: 4,949 gam; M2: 1,952gam. Tổng khối lượng là 6,901gam (sáu phẩy chín không một gam).
Quá trình điều tra Nguyễn Trọng Q khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy tổng hợp. Khoảng 11 giờ ngày 06/4/2021, Qđi ra khu vực ngã tư LT, thành phố Hgặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy “Đá” với giá 3.000.000đ (ba triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, Qvề nhà lấy ra một ít để sử dụng, số ma túy còn lại Qchia thành 02 gói, trong đó có 01 gói to bọc bằng nilon màu đen và 01 gói nhỏ cho vào túi nilon màu trắng. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Q cầm theo người 02 gói ma túy rồi mượn xe ô tô Kia biển kiểm soát 14D – 007.49 của chị Nguyễn Thị Thu H (con gái của Q) đi ra khu vực gần cổng Công ty H, thuộc khu 7, phường H để xem có người hỏi mua sẽ bán với giá 3.000.000đ/gói to và 1.500.000đ/gói nhỏ. Khi đến nơi Q xuống xe và cầm theo 01 gói ma túy to màu đen, còn gói ma túy nhỏ màu trắng Q cất giấu ở gầm ghế lái của xe ô tô. Khi Q vừa đi bộ vào trong ngõ khoảng 40 – 50m thì bị Công an kiểm tra, vì sợ nên Q đã vứt gói ma túy xuống đất nơi Q đứng.
Về vật chứng: Chiếc xe ô tô Kia biển kiểm soát 14D- 007.49, quá trình điều tra xác định của chị Nguyễn Thị Thu H cho Q mượn. Chị H không biết Qdùng chiếc xe đi bán ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả chiếc xe ô tô cho chị H.
Tại Bản cáo trạng số: 156/CT- VKSHL ngày 27/5/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng Q về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Trọng Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng: điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Q từ 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
Về vật chứng:
Đề nghị áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 6,75gam (Sáu phẩy bẩy lăm gam) ma túy, loại Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số: 708/KLGĐ ngày 12/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh QNinh.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng Q:
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy kèm 02 sim điện thoại;
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy kèm 01 sim điện thoại.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cơ bản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời nói sau cùng: bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố cơ bản đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình tiến hành tố tụng không ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Chứng cứ, tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp và đảm bảo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, các hành vi tố tụng được đảm bảo hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Trọng Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL: 21 – 22); Biên bản khám xét (BL: 24 – 27); Biên bản khám nghiệm hiện trường (BL: 28 – 29); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL: 31 – 33); Sơ đồ hiện trường, bản ảnh vật chứng, bản ảnh hiện trường, bản ảnh kiểm tra phương tiện (BL: 34 – 45); Kết luận giám định (BL: 47); Lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (BL: 109– 114); lời khai người chứng kiến (BL: 91 – 98; 103- 106) và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ ngày 06/4/2021 tại khu vực thuộc tổ 5, khu 7, phường H, thành phố H, tỉnh Q Ninh, Nguyễn Trọng Q có hành vi tàng trữ trái phép 6,901 gam (sáu phẩy chín không một gam) ma túy, loại: Methamphetamine, với mục đích để bán thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng Q đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố Hạ Long, tỉnh QNinh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trọng Qrất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại nhiều mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân người sử dụng, đồng thời ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, đến an ninh trật tự xã hội, từ ma túy sẽ kéo theo nhiều tệ nạn trong xã hội. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vì hám lời, coi thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Về nhân thân: Ngày 25/02/2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh QNinh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 09/01/2016 chấp hành hình phạt tù trở về địa phương. Ngày 13/6/2014 đã thi hành xong phần án phí của bản án.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình có công với cách mạng, bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy trước khi phạm tội, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng thu giữ trong vụ án 6,75gam (Sáu phẩy bẩy lăm gam) ma túy, loại Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số: 708/KLGĐ ngày 12/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh QNinh là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 (Hai) điện thoại di động, trong đó: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy kèm 02 sim điện thoại và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy kèm theo 01 sim điện thoại thu giữ trong vụ án là của bị cáo Q, bị cáo không sử dụng để liên hệ trao đổi khi mua bán ma túy, do vậy cần trả lại cho bị cáo Q.
Đối với chiếc xe ô tô Kia biển kiểm soát 14D- 007.49 là của chị Nguyễn Thị Thu H cho Q mượn. Chị H không biết Q dùng chiếc xe đi bán ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả chiếc xe ô tô cho chị H, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng Q: 07 (Bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/4/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 6,75 gam (Sáu phẩy bẩy lăm gam) ma túy, loại Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số: 708/KLGĐ ngày 12/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q Ninh là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng Q:
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, tại thời điểm giao nhận máy không lên nguồn nên không kiểm tra được số thuê bao theo như “Biên bản thu nhập dữ liệu điện tử hồi 04 giờ 10 phút ngày 07/4/2021 của Công an thành phố H, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy + kèm 02 sim điện thoại;
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, tại thời điểm giao nhận máy không lên nguồn nên không kiểm tra được số thuê bao theo như “Biên bản thu nhập dữ liệu điện tử hồi 04 giờ 10 phút ngày 07/4/2021 của Công an thành phố H, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy + kèm 01 sim điện thoại.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 196/BB- THA ngày 07/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Quảng Ninh).
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Q phải chịu: 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào: Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; người có qlnvlq; - Cơ quan điều tra CA tp H; - Cơ quan THAHS tp H; - Chi cục THADS tp H; - VKSND tp H; - Nhà tạm giữ CAHL; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |