vanban.org

Bản án 165/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Phương N, chị Trần Phương N được ly hôn với anh Nguyễn Anh T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 13/02/2018 cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thanh T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Phương N xin ly hôn với anh Nguyễn Anh T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 31/5/2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ BIEÂN HOØA- TÆNH ÑOÀNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thìn – Cán bộ hưu trí

Bà Huỳnh Thị Kim Kiên – Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hoà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Du – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2458/2020/TLST–HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2020, về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2021 và quyết định hoãn phiên toà số 182/2021/QĐST- HNGĐ ngày 12/5/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Phương N, sinh năm 1992.

Địa chỉ: 3B, tổ 2, khu phố 2, phường TH, thành phố BH, Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1987.

Địa chỉ: 15A/G4, khu phố 1, phường LBT, thành phố BH, Đồng Nai.

(Chị N có đơn xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Trần Phương N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Anh T kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân nhân phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai, hôn nhân tự nguyện không ai ép buộc. Quá trình chung sống thời gian đầu hai vợ chồng hạnh phúc nhưng khoảng thời gian sau anh T bắt đầu thường xuyên chơi cờ bạc, vay nợ và bắt gia đình phải trả nợ, ngoài ra anh T con thường xuyên sử dụng những từ ngữ xúc phạm chị N. Từ tháng 8 năm 2020 chị N đã chuyển về nhà mẹ đẻ, không còn chung sống với anh T nữa. Nay chị N thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị N yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

- Về con chung: chị N xác định có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 13/02/2018. Khi ly hôn, chị xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có, không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.

Anh Nguyễn Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

YÙ kieán cuûa Vieän kieåm saùt nhaân daân thành phố Biên Hòa:

+ Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết, Tòa án đã xác định đúng theo quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật.

+ Về vieäc giải quyết tranh chaáp: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn nguyên đơn chị Trần Phương N, cho chị Trần Phương N được ly hôn với anh Nguyễn Anh T; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 13/02/2018 cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Tuy Nên, anh T không lên Toà làm việc nên không có ý kiến về các vấn đề này. Do vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết; Về án phí: Chị Trần Phương N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng:

Chị Trần Phương N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Anh T. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị Trần Phương N là nguyên đơn còn anh Nguyễn Anh T là bị đơn.

- Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Anh T có hộ khẩu thường trú tại thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai và hiện nay đang sinh sống tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của chị Trần Phương N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh Nguyễn Anh T nhưng anh T không đến Toà làm việc, tham gia phiên họp kiển tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, các phiên toà xét xử; chị N có đơn xin vắng mặt, căn cứ vào các Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với chị N và anh T.

Về nội dung tranh chấp:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Phương N và anh Nguyễn Anh T tự nguyện kết hôn vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Được Uỷ ban nhân dân phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hoà cấp giấy chứng nhận kết hôn số 183/2013 quyển 2/2012 ngày 28/8/2013. Đối chiếu quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng khoảng thời gian sau anh T bắt đầu thường xuyên chơi cờ bạc, vay nợ và bắt gia đình phải trả nợ, ngoài ra anh T con thường xuyên sử dụng những từ ngữ xúc phạm chị N. Từ tháng 8 năm 2020 chị N đã chuyển về nhà mẹ đẻ, không còn chung sống với anh T nữa. Nay chị N thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị N yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Xét yêu cầu ly hôn của chị N là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quý trọng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Theo Biên bản xác minh tại Uỷ ban nhân dân phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hoà ngày 13/01/2021 cung cấp là hiện nay chị N và anh T không còn chung sống với nhau nữa. Như vậy, thể hiện việc mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh T theo như chị N khai là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn chung sống, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nữa. Quá trình giải quyết Toà án đã tiến hành hoà giải nhưng chị N vẫn cương quyết ly hôn do không còn tình cảm gì với anh T nữa. Toà án đã Nều lần triệu tập anh T lên Toà làm việc nhưng anh T vẫn vắng mặt chứng tỏ anh T không muốn níu kéo, hàn gắn cuộc sống gia đình. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho chị Trần Phương N được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 13/02/2018 cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thanh T1.

Anh T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết. Tuy Nên, anh T không lên Toà án làm việc nên không có ý kiến về các vấn đề này. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết, nếu sau này các bên có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[3] Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát và đương sự:

- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

- Xét yêu cầu của chị N phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Trần Phương N phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Phương N, chị Trần Phương N được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 13/02/2018 cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thanh T1.

Anh T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị Trần Phương N phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị N đã nộp tại biên lai số 0007424 ngày 17/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Chị Trần Phương N đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Phương N, anh Nguyễn Anh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ