- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mộng D "Tranh chấp ly hôn" với Phạm Xuân V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Mộng D.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2020/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 7- 2020 V/v “tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Hoàng.
2. Ông La Văn Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Ngày 24 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 156/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2020/QĐXX-ST ngày 12/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2020/QĐST-HNGĐ ngày 06/7/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng D, sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp 4, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Phạm Xuân V, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng D thể hiện:
Bà D và ông Phạm Xuân V có tìm hiểu nhau, sau đó tiến tới hôn nhân vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ vào ngày 01/7/2010. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Hiện ông bà đã ly thân. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Phạm Xuân V.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông bà có 01 con chung tên Phạm Gia H, sinh ngày 06/3/2011. Khi ly hôn, bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà không có chứng cứ gì bổ sung cho Tòa án nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Phạm Xuân V tham gia tố tụng để giải quyết vụ án nhưng ông V vắng mặt không lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến nên không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Mộng D nộp đơn khởi kiện ly hôn và tranh chấp về nuôi con với ông Phạm Xuân V có địa chỉ cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp “ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng D có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, căn cứ vào Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án trên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải
Ông V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông V theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông V tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 16/7/2018 tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình
Căn cứ phần trình bày của bà D về mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn, hiện không còn sống chung, không quan tâm lo lắng cho nhau, bà D vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông V, bị đơn ông V đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng ông V vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ ông V không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông V là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Mộng D.
Về con chung: Bà D và ông V có 01 con chung tên Phạm Gia H, sinh ngày 06/3/2011. Khi ly hôn, bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Tâm cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Phạm Gia H từ lúc sinh ra đến nay bé sống cùng mẹ, được mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phát triển khỏe mạnh, toàn diện; bên cạnh đó, cháu đã trên 07 tuổi, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ nên căn cứ vào điều kiện của các bên; quyền lợi về mọi mặt và lợi ích của con, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Phạm Gia H cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi theo quy định pháp luật, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy, với mức cấp dưỡng hàng tháng mà bà D đưa ra nằm trong chi phí để nuôi dưỡng con chưa thành niên hiện 09 tuổi; nhu cầu thiết yếu của con như ăn uống, sinh hoạt, đi lại, học tập ngày một tăng lên. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng phụ thuộc vào nhu cầu thiết yếu của con nên mức cấp dưỡng mà chị D đưa ra là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc ông Phạm Xuân V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Phạm Gia H, sinh ngày 06/3/2011 mỗi tháng 1.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 24/7/2020 đến khi cháu Phạm Gia H đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà D trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, bị đơn ông V vắng mặt không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Phạm Xuân V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Mộng D.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mộng D được ly hôn với ông Phạm Xuân V.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mộng D được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Phạm Gia H, sinh ngày 06/3/2011.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Xuân V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Phạm Gia H, sinh ngày 06/3/2011 mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 24/7/2020 đến khi cháu Phạm Gia H đủ 18 tuổi.
Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Khi cần thiết các bên có thể thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Mộng D phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004691 ngày 14/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà D đã nộp xong.
Ông Phạm Xuân V phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Mộng D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Xuân V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Các đương sự; - UBND xã Đ, huyện Đ (để ghi vào sổ hộ tịch); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Tho |