- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”;
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:165/2018/HSST Ngày: 02/10/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phong;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Lai;
Ông Nguyễn Bỉnh Thái.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quế;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 02 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 154/2018/HSST ngày17 tháng 8 năm 2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/QĐXX, ngày 21 tháng 9 năm 2018; đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh năm 1982;
ĐKHKTT: Thôn X, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Minh C, sinh năm 1957 và bà Tràng Thị Ng, sinh năm 1956; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 4; Vợ thứ 3: Nguyễn Thị D, sinh năm 1990 (Đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2006 với vợ thứ nhất là chị Nguyễn Thị Th(Đã ly hôn); Tiền sự, tiền án: Không ; Bị bắt tạm giam từ ngày 03/5/2018 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; Có mặt tại phiên tòa
Bị hại: Ông Nguyễn Anh Th, sinh năm 1955, có mặt;
HKTT: Số 26 Minh Kh, phường H, TP L, Lạng Sơn
Chỗ ở: số 12 Đặng Tất, phường Q, quận B, tp Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 31/3/2018, trên đường cao tốc CT 03: Lê Văn H điều khiển xe ô tô của hãng taxi Vic chở khách là anh Vũ Khắc M. Ông Nguyễn Anh Th điều khiển xe ô tô Kia Morning chở bà Nguyễn Thị Nh, bà Nguyễn Thị Đ (V), bà Nguyễn Thị H1 đi lễ chùa. Cả hai xe di chuyển theo hướng Bắc Ninh – Hà Nội.
Đến đoạn đường KM142 thuộc địa phận thôn Bái Uyên, xã Liên Bão, huyện Tiên Du; Hoằng phát hiện thấy trên mặt đường có một người thanh niên đang nằm bất tỉnh. Hoằng đỗ xe vào lề đường bên phải. Khi H, anh M xuống xe thì đúng lúc ông Th điều khiển xe ôtô đi tới. H quan sát thấy ông Th đã lái xe chèn qua cơ thể người thanh niên nhưng không dừng lại mà vẫn đi tiếp. H muốn lợi dụng việc này để uy hiếp buộc ông Th phải đưa tiền. Hoằng nhanh chóng bảo anh M lên xe đuổi theo xe ô tô của ông Th. Hg nói với anh M là để làm việc với lái xe kia kiếm tý tiền.
Ông Th điều khiển xe đi khoảng 300 mét thì đuôi xe quệt xuống mặt đường nên đỗ vào lề đường bên phải để kiểm tra. H vừa đuổi kịp, đỗ xe song song với xe của ông Th. H xuống xe, đi đến gần và thông báo để ông Th biết xe của ông đã chèn qua người bị tai nạn nằm trên đường mà bỏ đi. H bắt ông Th điều khiển xe đi theo xe H để nói chuyện.
H đã yêu cầu: Bà Nh, bà Đ chuyển sang xe của H; anh M chuyển sang xe của ông Th. H điều khiển xe đi trước đến gầm cầu vượt Hoài Thượng thì không nhìn thấy xe của ông Th đi theo sau nữa. H lái xe lùi lại khoảng 100 mét thấy xe ông Th đang đỗ ở đoạn đường dẫn vào thị trấn Lim. Ông Th đang buộc cố định ba đờ sốc của đuôi xe. H bảo ông Th tiếp tục lái xe đi theo H.
Đến đoạn đường đôi ở khu vực Cổng chào Hội Lim, H đỗ xe bên phải đường, xe ông Th đỗ ngay phía sau. H, bà Đ, bà Nh xuống xe, cùng đứng trên vỉa hè. Ông Th, anh M cũng xuống xe và đi đến chỗ bà Nh, bà Đ. Bà H1 do sức khỏe kém và quá sợ hãi nên ngồi lại trên xe ô tô của ông Th. H yêu cầu ông Th phải đưa 20 triệu đồng, nếu không H sẽ báo Công an việc ông Th gây tai nạn.
Anh M nghe thấy việc trao đổi giữa H và ông Th, vì không muốn liên quan tới sự việc nên đã lấy túi đồ cá nhân trên xe taxi và nói với H là không đi xe nữa. Đi qua vị trí bà Đ, anh M nói để bà Đ biết việc H đang làm tiền, không đưa tiền cho H. Sau đó đi sang quán bán hàng đêm trước cổng Huyện ủy T ngồi uống nước.
Ông Th lên xe và điều khiển xe ôtô của mình vòng sang chiều đường bên kia. Hoằng lên xe taxi và đuổi theo, đỗ chặn phía trước đầu xe của ông Th. H xuống xe đi đến phía cửa ghế phụ xe của ông Th nói: “Ông định đi à?”, Đồng thời H thò tay qua kính cửa ghế phụ mở cốp lục lấy giấy tờ xe. Ông Th xuống xe, đuổi theo H để đòi lại giấy tờ xe.
Khi này bà Nh, bà Đ chạy bộ từ đường bên kia sang, nhìn thấy H lấy giấy tờ xe, bà Đ liền nói với theo: “Sao lại lấy giấy tờ xe?” Ông Th đến gần chỗ H định giằng lại giấy tờ thì H giật lại và nói: “Không có hai chục triệu thì phải có mười triệu sẽ trả giấy tờ”. H cầm giấy tờ lên xe taxi. Ông Th ngồi lên ghế phụ cùng xe, vờ đồng ý với yêu cầu của H, nói là chờ người nhà mang tiền đến. H lái xe taxi chở ông Th đến cổng trường Trung học cơ sở T (viết tắt là THCS Tiên Du) để chờ người nhà ông Th mang tiền đến. Trên đường đi, ông Th đã lấy lại được giấy tờ xe ô tô. Thấy H chở ông Th đi, bà Đ đã đến quán ăn đêm gần đó để nhờ anh Nguyễn Trọng H2 giúp đỡ. Anh H2 đã lái xe ô tô 15 chỗ của mình chở bà Nh đuổi theo xe H. Anh Nguyễn Đức T đang uống rượu cùng bạn, nghe sự việc thấy bất bình nên điều khiển xe máy chở bạn đuổi theo xe H. Bà Đ lo sợ H sẽ gây nguy hiểm cho ông Th nên đã gọi điện cho anh Trần Ngọc Q, chị Nguyễn Thị Hồng Nh (là con rể và con gái của ông Th) đến hỗ trợ.
Sau khi chở bà Nh đến khu vực cổng trường THCS T, anh H2 lái xe trở lại quán bán hàng đêm của gia đình. Bà Đức nhờ anh Hải lái xe ra quốc lộ 1A cũ để đón và dẫn đường cho người thân từ Hà Nội sang. Khoảng hơn 1 giờ ngày 01/4/2018 anh Q, chị Nh cùng vài người thân đi xe ôtô đến nơi.
Anh M đã điều khiển xe ôtô của ông Th, chở bà H1 và bà Đ. Anh H2 lái xe ô tô 15 chỗ của mình. Anh Q lái xe ô tô chở chị Nh và một vài người từ Hà Nội sang. Tất cả cùng đi đến chỗ H và ông Th đang ở cổng trường THCS Tiên Du. Thấy người nhà của ông Th đến đông, H nói với mọi người là không có chuyện gì. H nói với ông Th cho xin ít tiền để đổ xăng xe. Ông Th lấy trong túi quần ra đưa cho H mấy tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Theo H khai là 2.000.000 đồng. H nhận được tiền rồi điều khiển xe đi luôn.
Cáo trạng số: 110/CT - VKS ngày 16/8/2018 của VKSND huyện Tiên Du đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 điều 170- Bộ luật hình sự.
Diễn biến tại phiên tòa trong quá trình xét hỏi:
Bị cáo H khai: Đêm 31/3 rạng sáng 1/4, khi H đang lái xe trên đường CT 03 chở khách là một nam thanh niên từ Bắc Giang về Hà Nội. Đến đoạn đường thuộc địa phận xã Liên Bão, H quan sát thấy giữa đường có một người nằm bất tỉnh. H giảm tốc độ, đánh lái và đỗ xe bên phải. H cùng người khách trên xe xuống xe. Thấy có một vài người cũng đi xe máy dừng lại. Mọi người bảo H và anh khách đi xe bê người nằm giữa đường vào lề đường. Nhưng H sợ người đó đã chết, không dám bê vào. Đúng lúc thấy một xe con từ sau đi tới (do ông Thái lái), đã chèn qua người thanh niên, nhưng không dừng lại mà vẫn tiếp tục chạy. Mọi người có mặt ở đó bảo H đuổi theo xe con này. H bảo anh khách lên xe taxi và đuổi theo xe. Đến đoạn đường rẽ dẫn vào thị trấn Lim, do không để ý nên xe của ông Th rẽ vào đường dẫn trước. Xe của bị cáo đi quá lối rẽ nên phải lùi lại. Tại vị trí ông Th đỗ xe, bị cáo đã yêu cầu 2 người phụ nữ trên xe của ông Th chuyển qua xe của bị cáo. Còn người khách đi xe của bị cáo chuyển sang xe ông Thái. Ông Th lái xe đi trước, xe bị cáo theo sau. Đến cổng chào Hội Lim, ông Th dừng xe. Mọi người trên xe cùng xuống đường. Ông Th đã nói với bị cáo: “ Việc của chú, chú sẽ lo, cháu cầm tạm 1 -2 triệu đổ xăng”. Bị cáo đã nói với ông Th: “Cháu chỉ là người qua đường, 1-2 triệu cháu lấy làm gì cho mang tiếng”. Nhưng ông Th nài nỉ, bị cáo định đi báo công an nên muốn kiểm tra giấy tờ của xe. Khi ông Th đưa giấy tờ xe, bị cáo xem xong rồi trả lại cho ông Th. Sau đó, ông Th nói với bị cáo để hai người ra cổng trường học nói chuyện. Bị cáo chở ông Th ra đó bằng xe của bị cáo. Một lúc sau có một vài người thanh niên bị cáo không quen biết đã chặn xe của bị cáo và giữ bị cáo lại để chờ người nhà ông Th đến giải quyết. Khi người nhà ông Th đến khá đông. Ông Th đưa cho bị cáo mấy tờ tiền mệnh giá 500.000đồng. (khoảng 2 triệu đồng), bị cáo có cầm nhưng đã trả lại cho người phụ nữ đi cùng ông Th.
Bị cáo không hề dọa dẫm để buộc ông Th đưa tiền cho bị cáo. Ông Th đưa tiền trong trạng thái bình thường, không có dấu hiệu bị ép buộc. Bị cáo không nghĩ rằng chỉ từ hành động bột phát, bị cáo không biết lựa chọn cách cư xử đúng nên đã phải trả giá bằng việc bị truy tố về hành vi phạm tội.
Ông Nguyễn Anh Th khai: Từ khi xe phải dừng lại trên đường cao tốc do sự cố Badsoc của xe ô tô; Xe taxi của H đỗ sát với xe của ông và thông báo biết việc ông chèn qua người trên đường cao tốc. H liên tục buộc mọi người trên xe đổi xe, điều khiển xe đi trước dẫn ông và mọi người vào nơi vắng vẻ ít người qua lại. Tại khu vực cổng chào Hội Lim, H yêu cầu ông đưa 20 triệu thì sẽ không báo Công an việc gây tai nạn. Khi ông và mọi người nói không có tiền thì H lấy giấy tờ xe trong cốp xe và nói phải đưa 10 triệu mới trả lại giấy tờ xe. Ông đã đi theo H ra khu vực cổng trường học để đòi lại giấy tờ. Khi mọi người đi cùng xe và các con ở Hà Nội sang thì H xin ông tiền đổ xăng. Ông đẵ đưa cho H mấy tờ mệnh giá 500.000đồng. H đã cầm và lái xe bỏ đi. Nay ông Th không yêu cầu H trả lại số tiền.
Những người làm chứng là bà Nh, bà Đ cũng trình bày: Đã nghe rõ ràng việc H nói với ông Th phải đưa 20 triệu để không báo công an. Từ khi gặp H đến khi H bỏ đi, bị cáo lúc đầu thái độ bình thường, sau đó chuyển sang hăm dọa. Nhưng mọi người không đủ tiền để đưa cho bị cáo
Người làm chứng là anh M trình bày: Do đi cùng xe với bị cáo, nên sau khi thấy xe ông Th chèn qua người trên đường cao tốc; Bị cáo H đã nói với anh trên xe là đuổi theo xe kia để kiếm tiền. Tại khu vực cổng chào Hội Lim, H đã yêu cầu ông Th phải đưa 20 triệu đồng. Việc H nói tất cả mọi người đều nghe rõ vì khoảng cách đứng rất gần nhau, nhìn rõ mặt nhau. Lúc này, anh đi qua bà V, bà Nh còn thông báo cho các bà biết việc H đang lợi dụng để “làm tiền” với ông Th.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tội danh của bị cáo như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 điều 170, điểm s, v khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 – BLHS ; Xử phạt: Lê Văn Hoằng: Từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung;
Tại phần tranh luận, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là có tội. VKSND huyện Tiên Du truy tố về hành vi: “Cưỡng đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt. Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo yên tâm cải tạo để sớm trở về với gia đình và xã hội.
Bị hại là ông Th cũng đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người đã biết ăn năn, hối cải về những việc đã gây ra.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 31/3/2018, Lê Văn H đã chứng kiến sự việc: Ông Nguyễn Anh Th lái xe ô tô chèn qua một người thanh niên nằm bất tỉnh trên đường cao tốc CT03 (chiều đường Bắc Ninh – Hà Nội thuộc địa phận thôn B, xã L, huyện Tiên Du). H đã lái xe taxi của mình đuổi theo xe của ông Th. H nói với anh M (hành khách đi xe taxi) sẽ lợi dụng việc gây tai nạn để kiếm tiền.
Bằng các hành vi như: Khi nhìn thấy xe ông Th chèn qua người nằm trên đường, bị cáo không tìm cách cứu giúp người bị nạn mà lại đuổi theo xe của ông Th; Buộc những người trên xe của bị cáo và trên xe của ông Th phải chuyển xe; Buộc ông Th phải lái xe theo sau bị cáo đến khu vực ít người qua lại, đêm khuya vắng vẻ chỉ để nói với ông Th vì trách nhiệm của người đi đường, nhưng lại không báo cơ quan chức năng để xử lý vụ tai nạn; Lấy giấy tờ xe của ông Th để tạo thêm sự ràng buộc; Lái xe chở ông Th ra khu vực gần đường cao tốc để chờ người nhà mang tiên đến. Những hành vi trên thể hiện thủ đoạn của bị cáo muốn uy hiếp tinh thần của ông Th để đạt được mục đích chiếm đoạt được tiền của ông Th. Bị cáo đã cầm số tiền ông Th đưa cho.
Hành vi của bị cáo thỏa mãn các quy định của khoản 1 Điều 170 – BLHS như VKSND huyện Tiên Du đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về nhân thân: Bị cáo đã từng là chiến sĩ Công an, công tác tại phòng PC22 thuộc Công an tỉnh Hưng Yên; nhưng lại không biết giữ gìn phẩm chất của người chiến sĩ “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ” mà lợi dụng những hiểu biết, tận dụng điều kiện thuận lợi để phạm tội cho sự vụ lợi của bản thân.
Bị cáo đã ra quân tháng 4/2010. Ngày 30/11/2012 bị Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt 4 năm 6 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 15/10/2015 chấp hành xong hình phạt về địa phương. Khoản án phí theo quyết định của bản án này cũng được bị cáo chấp hành xong trước khi chấp hành xong hình phạt. Đến ngày 01/4/2018, bị cáo mới thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã được coi là đương nhiên xóa án, nhưng bị đánh giá là người có nhân thân xấu. HĐXX xét cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận có hành vi đe dọa để bị hại đưa tiền cho mình và đã tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi do mình gây ra. Bị cáo được tặng thưởng nhiều Giấy khen vì có nhiều thành tích xuất sắc trong học tập và công tác trong thời gian bị cáo phục vụ trong lực lượng công an. HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s,v khoản 1Điều 51 – BLHS.
Bị hại là ông Nguyễn Anh Th cũng có lời đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm. Do vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 - BLHS
Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Th không xác định được chính xác số tiền mà đã đưa cho H. Tuy nhiên H khai nhận số tiền là 2.000.000 đồng. Ông Th không yêu cầu Hoằng phải trả lại số tiền trên nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Chiếc xe ô tô taxi (hãng Taxi Vic), BKS: 30A-883.63 do Hoằng điều khiển khi thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định là của ông Âu Văn D. Sau khi sự việc xảy ra đến khoảng 2 giờ ngày 01/4/2018 Hđã mang xe đến trả lại cho ông D. Ông D không biết việc H đã sử dụng xe của ông để thực hiện hành vi phạm tội .
Chiếc xe ô tô nhãn hiệu KiA Morning, BKS: 30A-288.84 do ông Thái điều khiển. Quá trình điều tra xác định là của chị Nguyễn Thị Hồng Nh. Cơ quan điều tra đã xử lý trong vụ việc tai nạn giao thông.
Liên quan trong vụ án này có hành vi của ông Thái điều khiển xe ô tô chèn qua người anh Nguyễn Mạnh T. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đang tiếp tục điều tra, hành vi liên quan của ông Thái sẽ được làm rõ trong vụ án giao thông.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”;
Áp dụng khoản 1 điều 170; điểm s, v khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 – BLHS; Khoản 2,3 Điều 329; Điều 331; Điều 333 – BLTTHS; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Xử phạt: Lê Văn H: 18(Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 03/5/2018;
Quyết định tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo Thi hành án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Người TGTT; - TAND tỉnh BN; - VKSNDtỉnh, huyện; - Chi cục THADS huyện; - Sở TP tỉnh BN; - Công an huyện Tiên Du; Lưu án văn, hồ sơ Các Hội thẩm nhân dân Nguyễn Thế Lai Nguyễn Bỉnh Thái | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phong Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phong |