vanban.org

Bản án 165/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Hồng C-ông Nguyễn Thanh P"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 165/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 11-9-2018
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Tâm.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Diệu Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Không

tham gia phiên tòa.

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 378/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5

năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

160/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm: 1982. (Có mặt)

Địa chỉ: số 530/3, tổ 9, khóm Tây Huề 2, phường Mỹ Hòa, thành phố Long

Xuyên, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: ông Nguyễn Thanh P, sinh năm: 1986. (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C trình bày:

bà và ông P tìm hiểu, quen biết và tiến tới hôn nhân vào năm 2006, vợ chồng có tổ

chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo đúng quy định. Sau thời gian chung sống, vợ

chồng phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống,

thường xuyên cự cãi, hôn nhân không hạnh phúc và không thể hàn gắn, bà và ông P

không còn chung sống với nhau từ năm 2014 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn

nên bà yêu cầu ly hôn với ông P.

- Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày

15/10/2007 hiện do bà C đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng.

- Về quan hệ tài sản chung: bà C xác định không có tài sản chung.

- Về quan hệ nợ chung: bà C xác định không có nợ chung.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để

tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông P vắng mặt không r lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông P về nội dung đơn khởi kiện của bà C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Hồng C yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh P. Ông P có

nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia

phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng C và ông Nguyễn Thanh P xác

lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cự cãi do mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2014 đến nay. Bà C xác định tình cảm quan hệ vợ chồng không thể tồn tại và hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông P. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh

ngày 15/10/2007. Trước đây vợ chồng cùng nuôi con chung nhưng từ khi vợ chồng không còn sống chung thì cháu N sống với bà C cho đến nay. Sau khi ly hôn bà C yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Tại biên bản ghi ý kiến ngày 22/6/2018, cháu N có nguyện vọng được sống với

mẹ, Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian cháu N sống với bà C, cháu được chăm sóc tốt, được cho đi học tại trường tiểu học Trần Quốc Toản và bà C cũng đảm bảo mọi điều kiện về chỗ ở, học tập và sinh hoạt cho cháu. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu N, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu N cho bà C tiếp tục nuôi dưỡng,

chăm sóc để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cho cháu và phù hợp với

quy định pháp luật.

Về mức cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà

C, không buộc ông P cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông P không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông có quyền tới lui trông

nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông P thực hiện

quyền này.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu

Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp

dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: ghi nhận ý kiến của bà Nguyễn Thị Hồng C trình

bày không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về quan hệ nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà Nguyễn Thị Hồng C trình bày

không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: bà Nguyễn Thị Hồng C phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình

2014.

- Các Điều 28, 35, 146, 147, 227, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự

năm 2015.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ

phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng C.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Hồng C được ly hôn với ông Nguyễn

Thanh P.

- Về quan hệ con chung: bà Nguyễn Thị Hồng C được tiếp tục trông nom,

chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày

15/10/2007. Ông Nguyễn Thanh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông P không trực tiếp nuôi con chung nhưng ông có quyền tới lui trông nom,

chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông P thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu

Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp

dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung: ghi nhận bà Nguyễn Thị Hồng C trình bày không

có, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về quan hệ nợ chung: ghi nhận bà Nguyễn Thị Hồng C trình bày không có,

Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Hồng C phải chịu án phí hôn nhân

và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0019682 ngày 23/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà C đã nộp xong.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Nguyễn Thị Hồng C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án.

Ông Nguyễn Thanh P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ