vanban.org

Bản án 1644/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim H:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim H được ly hôn với ông Huỳnh Vũ M. Về con chung: có 01 con chung là Huỳnh Lê Minh Đ, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2012. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Kim H - Huỳnh Vũ M tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim H:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1644/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 9 - 2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Khanh.

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 335/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2024, về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 547/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 405/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/9/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim H, sinh năm 1992; địa chỉ: 19/113 tổ A, ấp B, xã N, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Huỳnh Vũ M, sinh năm 1990; địa chỉ: 19/113 tổ C, ấp D, xã N, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn xin ly hôn đề ngày 06/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án,nguyên đơn là bà Lê Thị Kim H trình bày:

Bà và ông Huỳnh Vũ M tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, được Uỷ ban nhân dân xã T, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45 quyển số I ngày 10/5/2012. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra từ năm 2019 do bất đồng quan điểm, lối sống, trách nhiệm. Bà đã cố gắng rất nhiều để dung hòa nhưng không thành. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài nhiều năm, vợ chồng không có tiếng nói chung nên bà xin ly hôn với ông M. Bà yêu cầu trực tiếp nuôi con chung là Huỳnh Lê Minh Đ sinh ngày 06/3/2012, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung. Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.

Bị đơn ông Huỳnh Vũ M được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng; đương sự đã được bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Bà H và ông M chung sống tự nguyện, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà H trình bày mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra từ năm 2019 và ngày càng trầm trọng. Ông M được tống đạt hợp lệ nhưng không có ý kiến phản hồi. Mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra trong thời gian dài nhưng không ai có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Con chung sinh năm 2012 có nguyện vọng ở với bà H. Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, bị đơn cư trú tại huyện Hóc Môn nên đây là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, kèm Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng, theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Quan hệ hôn nhân: Bà H, ông M chung sống tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45 quyển số I ngày 10/5/2012 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp, theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4.1] Về yêu cầu ly hôn: Bà H trình bày vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mâu thuẫn xảy ra từ năm 2019, bà đã cố gắng nhưng mâu thuẫn vẫn kéo dài đến nay không hóa giải được nên bà cương quyết xin ly hôn với ông M. Ông M trực tiếp nhận Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng không có ý kiến phản hồi. Đại diện Ban nhân dân ấp B, xã N, huyện Hóc Môn xác định không rõ mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông M do không được trình báo.

Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông M là có thật, đã kéo dài từ năm 2019 đến nay mà không ai có thiện chí hòa giải đoàn tụ, khiến cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4.2] Về con chung, nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con:

Căn cứ lời khai của bà H kèm bản sao Giấy khai sinh số 225/QH, quyển số 02/2012 ngày 10/3/2015 của Ủy ban nhân dân phường H, quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh, có căn cứ xác định vợ chồng bà H và ông M có 01 con chung là Huỳnh Lê Minh Đ, sinh ngày 06/3/2012.

Bà H yêu cầu trực tiếp nuôi nuôi con là phù hợp với nguyện vọng của con chung tại Bản tự khai ngày 17/4/2024, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận. Ghi nhận việc bà H tự nguyện không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận bà H trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.

[6] Tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, quy định:”Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ”. Ông M không có ý kiến phản hồi, không cung cấp tài liệu chứng cứ nên phải tự chịu trách nhiệm.

[7] Phát biểu ý kiến tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn về việc giải quyết vụ án là cùng quan điểm với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Kim H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim H:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim H được ly hôn với ông Huỳnh Vũ M.

- Về con chung: có 01 con chung là Huỳnh Lê Minh Đ, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2012.

Giao cho bà Lê Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Lê Minh Đ, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2012. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Huỳnh Vũ M cho đến khi có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về nợ chung: Ghi nhận bà Lê Thị Kim H trình bày không có.

- Về tài sản chung: Ghi nhận bà Lê Thị Kim H trình bày không có.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Kim H phải chịu số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0024376 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà Lê Thị Kim H đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ