- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo: Lê Ngọc T phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2023/HSST Ngày: 13/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Vĩnh
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Cúc
Ông Tạ Đức Minh
Thư ký toà án - ghi biên bản phiên toà:
- Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà:
- Ông Dương Bá Thành Luân – Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại Phòng xét xử trực tuyến -Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 159/2023/HSST-TL ngày 12/6/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Ngọc T, Sinh năm: 1968. HKTT: Tổ 25 Phường N, quận Long Biên, Hà Nội. Chỗ ở: Tổ 22 Phường N, quận Long Biên, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa: 5/10. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Lê Ngọc H- SN: 1946. Họ tên mẹ: Dương Thị K (Đã chết). Có vợ: Nguyễn Thị Phương L- SN: 1973. Có 02 con chung, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2006. Theo danh chỉ bản số: 333, lập ngày: 21/4/2023, tại Công an quận Long Biên, Hà Nội xác định tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Bản án số 22 ngày 15/3/1990, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội xử phạt Lê Ngọc T 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Hạn tù tính từ ngày 10/01/1990 (Tài sản trộm cắp là 01 bàn là và 01 cát sét). Bị can đã được xóa án tích.
+ Bản án số 161 ngày 20/9/1999, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội xủ phạt Lê Ngọc T 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Hạn tù tính từ ngày 05/6/1999. Chấp hành xong hình phạt về địa phương ngày 05/6/2001. Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm ngày 10/5/2023 kết quả: Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm không tìm thấy Quyết định thi hành án. Bị can đã được xóa án tích.
+ Bản án số 106 ngày 23/8/2006, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xử Lê Ngọc T 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hạn tù tính từ ngày 02/6/2006. Chấp hành xong hình phạt về địa phương ngày 02/6/2007. Xác minh thi hành án, đã nộp án phí theo biên lai số 00082 ngày 09/3/2011 (Gồm 50.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 350.000đ án phí dân sự sơ thẩm). Đối với khoản tiền bồi thường dân sự 7.100.000đ, do đương sự chưa có đơn yêu cầu thi hành án nên Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì không có căn cứ thụ lí đơn. Bị can đã được xóa án tích.
+ Bản án số 21 ngày 24/02/2009, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xử 26 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, hạn tù tính từ ngày 27/10/2008. Chấp hành xong về địa phương ngày 27/9/2010. Xác minh thi hành án, về khoản bồi thường dân sự số tiền 14.800.000đ, Chi cục thi hành án huyện Thanh Trì trả lời đến nay các đương sự chưa có đơn yêu cầu thi hành án nên không có căn cứ thụ lí. Đối với khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm 50.000đ và án phí dân sự sơ thẩm 740.000đ, Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên đã có quyết định đình chỉ thi hành án số 74 ngày 30/9/2016 đối với các khoản tiền này cho Lê Ngọc T. Bị can đã được xóa án tích. Tạm giữ ngày 14/4/2023 hiện nay đang bị tạm giam. Có mặt tại phiên tòa. * Bị hại đã nhận tài sản (vắng mặt tại phiên tòa): chị Nguyễn Thu H, Sinh năm: 1985, chỗ ở: Nhà số 30 ngõ 268 Tổ 13 N, quận Long Biên, Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 6 giờ 00 phút ngày 14/4/2023, Công an phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, khi đến trước cửa nhà số 49 phố Đức Giang thì phát hiện 01 người đàn ông đang dắt chiếc xe máy Honda Wave BKS: 29K2- 050.92 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Người đàn ông tự khai tên Lê Ngọc T, chiếc xe máy là do T vừa trộm cắp khoảng 4h cùng ngày tại Ngọc Thụy. Tổ công tác công an phường Đức Giang đã đưa T và xe máy về trụ sở để làm rõ.
Tang vật thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng bạc BKS: 29K2- 050.92, số máy: JA39E2898877, số khung: A3924NY464487 đã qua sử dụng
Tại bản kết luận định giá tài sản số 74 ngày 14/4/2023 của Hội động định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29K2-050.92 màu trắng bạc trị giá 25.425.000đ (Hai mươi lăm triệu, bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Ngày 14/4/2023, chị Nguyễn Thu H (SN: 1985, chỗ ở: Nhà số 30 ngõ 268 Tổ 13 phường N, Long Biên, Hà Nội) đến Cơ quan Công an trình báo nội dung mất trộm tài sản như trên.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Ngọc T khai nhận: Khoảng 2h00’ ngày 14/4/2023, T đi bộ từ khu vực bến xe Gia Lâm về phường Ngọc Thụy, quận Long Biên mục đích xem có nhà nào sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà số 30 ngõ 268 phường N, đèn trong sân bật sáng, T đến gần phát hiện 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29K2- 050.92 dựng ở trước cửa nhà thứ 3 tính từ ngoài vào, không có người trông giữ, không khóa cổ, khóa càng. T đi tới chỗ dựng xe, gạt chân chống và dắt xe đi ra ngoài. Do không nổ được máy nên T dắt xe đi bộ theo cung đường Ngọc Thụy- chung cư Đầm Nấm- phố Đức Giang để tìm cửa hàng sửa xe máy. Khi T đi đến trước cửa nhà số 49 phố Đức Giang thì bị tổ công tác kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.
Tiến hành xác minh chủ sở hữu chiếc xe máy, BKS: 29K2-050.92 xác định đăng kí xe mang tên chị Nguyễn Thu H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã ra quyết định xử lí vật chứng trao trả chị H chiếc xe nói trên, chị H đã nhận lại xe, không có ý kiến gì khác về dân sự. Ngày 25/4/2023 Chị H có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Lê Ngọc T.
Tại bản cáo trạng số: 158/CT-VKSLB ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố đối với bị cáo Lê Ngọc T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích đánh giá nội dung vụ án, hành vi và mức độ, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với:
Bị cáo Lê Ngọc T: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự về tội trộm cắp tài sản và áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2(bị hại đã nhận tài sản và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo) điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt mức án từ: 15(mười lăm) tháng đến: 18(mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày: 14/4/2023. Không phạt tiền vì bị cáo không nghề ổn định;
Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án này: Tài sản thu giữ đã trả lại cho bị hại, bị hại nhận và không có yêu cầu gì, nên không xét.
Bị cáo Lê Ngọc T phải nộp án phí theo quy định, bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn quy định của pháp luật.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo cũng như bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Ngọc T đã có những lời khai, xét lời khai tại phiên tòa phù hợp với các lời khai đã có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo tại phiên tòa khai nhận nội dung vụ án thành khẩn, bị cáo T do có ý định trộm cắp từ trước, đã lợi dụng rạng sáng ngày 14/4/2023, sau khi phát hiện tài sản là 01 chiếc xe máy tại địa chỉ nhà số 30 ngõ 268 Ngọc Thụy, bị cáo quan sát thấy chiếc xe không có người trông giữ, không có khóa cổ, khóa càng nên bị cáo đã lén lút dắt xe khỏi vị trí ban đầu là trước cửa nhà bị hại, mục đích tìm cửa hàng sửa xe để đánh chìa khóa và dùng làm phương tiện đi lại, nếu ai hỏi mua sẽ bán lấy tiền tiêu. Ngoài các lời khai phù hợp còn thể hiện bị cáo có lời khai về hiện trường, trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Tài sản bị cáo trộm cắp đã được định giá tại bản kết luân định giá số: 74 ngày 14/4/2023 của Hội động định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29K2-050.92 màu trắng bạc trị giá 25.425.000đ (Hai mươi lăm triệu, bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Như vậy bị cáo Lê Ngọc T đã phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quan hệ sở hữu được pháp luật và nhà nước bảo vệ, xâm hại đến quyền tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, cần có hành phạt tương xứng để giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
Trong vụ án này bị cáo phạm tội có tính cơ hội đơn giản. Bị cáo T là người có nhiều tiền án và tiền sự, tuy các tiền án đã được xóa án tích nhưng nhân thân bị cáo là xấu, bị cáo khai báo thành khẩn là tình tiết xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, bị hại cũng đã nhân tài sản không yêu cầu, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự trong vụ án này, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại nhận lại, không có yêu cầu gì.
+ Hình phạt bổ sung là phạt tiền: Không áp dụng đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định.
Bị cáo Lê Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định Pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ : Khoản 1 điều 173, Điều 38, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ: Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 quy định mức án phí, lệ phí.
1/ Tuyên bố bị cáo: Lê Ngọc T phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.
2/ Xử phạt bị cáo: Lê Ngọc T: 18(mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày: 14/4/2023.
3/ Án phí và Quyền kháng cáo:
Bị cáo Lê Ngọc T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Lê Ngọc T có hạn kháng cáo hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày từ ngày nhận bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; - Viện kiểm sát quận Long Biên - THA quận - Công an quận - TAND thành phố Hà Nội - Lưu hồ sơ | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |