- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tư phạm tội Trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2023/HS-ST Ngày: 06 - 7 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Lập
2. Bà Lê Thị Thanh Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quang Sơn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2023/TLST- HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2023/HSST- QĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn T (tên gọi khác: không); sinh ngày: 13 tháng 11 năm 2004 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị B; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: ngày 13/7/2022 bị Công an xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương xử phạt 1.250.000đ về hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 25/11/2022 đến ngày 04/12/2022 chuyển sang tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh “có mặt”.
- Bị hại:
1) Chị Lê Kim Nhật L, sinh năm: 1976; nơi ĐKHKTT: số 480/9 X, phường 25, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: căn Villa 52, khu biệt thự V, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh “vắng mặt” (có đơn xin xử vắng mặt).
2) Ông Lê Minh Q, sinh năm: 1962; nơi ĐKHKTT: tổ 3, khu 2, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: Villa số 52, khu biệt thự V, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh “vắng mặt” (có đơn xin xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1) Ông Nguyễn Văn B, sinh ngày: 12/7/1962; trú tại: thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương “có mặt”.
2) Bà Nguyễn Thị B, sinh ngày:12/6/1963; trú tại: thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương “có mặt”.
3) Anh Tăng Bá G, sinh năm: 1989; nơi ĐKHKTT: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; chỗ ở: số 512 Đ, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương “vắng mặt” (có đơn xin xử vắng mặt).
4) Anh Nguyễn Thành L, sinh năm: 1989; trú tại: số 297, thôn Y, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh “vắng mặt”
5) Anh Lê Công Q, sinh năm: 1992; trú tại: tổ 55, khu 5, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh “vắng mặt”
6) Chị Phạm Thị Thu T, sinh năm: 1997; trú tại: tổ 18, khu 2, phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh “vắng mặt”
- Những người làm chứng:
1. Ông Vũ Văn Ba, sinh năm: 1983; nơi cư trú: tổ 2, khu 5, phường Đại Yên, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh “vắng mặt”
2) Ông Nguyễn Mạnh Hùng, sinh năm: 1978; nơi cư trú: tổ 13, khu 3, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: khu tập thể chợ quê Công ty TNHH A “vắng mặt”
3) Ông Nguyễn Tiến Hưng, sinh năm: 1975; nơi ĐKHKTT: khu L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: khu tập thể chợ quê Công ty TNHH A “vắng mặt”
4) Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm: 2004; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thiếu tiền tiêu sài cá nhân, Nguyễn Văn T thường xuyên đi lang thang một mình ở khu vực phường T, thành phố H với mục đích tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Trong khoảng thời gian từ ngày 14/9/2022 đến ngày 24/11/2022, T đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: khoảng 02 giờ ngày 14/9/2022, T một mình đi lang thang ở khu biệt thự vườn đồi T, thuộc phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Khi đến căn Villa 52, thuộc sở hữu của chị Lê Nhật Kim L, thấy không có ai trông coi, T mở thử các cửa, thấy một cửa không khóa rồi đi vào bên trong nhà lục tìm tài sản. T thấy ở mặt tủ gỗ kê gần cửa ra vào có để 01 chiếc chìa khóa của xe ô tô nhãn hiệu Kia Sorento, nghĩ bên trong xe ô tô sẽ để tài sản nên T cầm chìa khóa đi ra sân ở phía trước căn Villa 52 mở khóa chiếc xe ô tô màu sơn trắng, biển kiểm soát 14A- 550.86. Sau đó, T mở cửa xe lấy số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng), gồm những mệnh giá 500.000đ, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, dung lượng 256GB trong túi giấy để ở sàn xe bên ghế phụ. Sau khi trộm cắp được tài sản, T bán chiếc điện thoại Iphone 11 Pro cho một người không quen biết với giá 3.000.000đ (Ba triệu đồng), số tiền còn lại T tiêu sài cá nhân hết.
- Lần thứ 2: khoảng 24 giờ ngày 23/11/2022, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda WinnerX, màu sơn đỏ - xanh, biển kiểm soát 34E1- 324.58 đến đỗ xe ở một bãi đất cạnh Chùa Minh Châu, thuộc tổ 21, khu 5, phường T, thành phố H rồi đi bộ vào phía bên trong Chùa. Quan sát thấy Chùa không có ai trông coi, T đi vào gian bếp của Chùa lấy 02 con dao mục đích để bậy phá khóa cửa, rồi T cầm 02 con dao trên quay lại một căn phòng nhỏ ở cạnh cổng Chùa. Tại đây, T dùng tay vặn gãy tai then cài cửa rồi đi vào bên trong thì thấy có 01 hòm đựng tiền công đức làm bằng gỗ, T dùng 02 con dao bậy khóa lấy trộm số tiền trong hòm công đức rồi bỏ ra đếm được 501.000đ (Năm trăm linh một nghìn đồng). Sau đó T để lại 02 con dao ở Chùa rồi bỏ đi. Sau khi kiểm tra phát hiện thấy hòm công đức của Chùa bị cậy phá lấy hết số tiền bên trong, ông Lê Minh Q quản lý Chùa đã đến trình báo và giao nộp 02 con dao trên cho Cơ quan điều tra.
- Lần thứ 3: Sau khi trộm cắp số tiền 501.000đ ở Chùa Minh Châu, T điều khiển xe đến căn biệt thự Villa 52 khu biệt thự vườn đồi T, thuộc phường T, thành phố H để tiếp tục trộm cắp tài sản. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 24/11/2022, T dựng xe mô tô nhãn hiệu Honda WinnerX, màu sơn đỏ - xanh, biển kiểm soát 34E1 – 324.58 ở một bãi đất trống rồi đi bộ đến căn Villa 52. Tại đây T thấy cửa sổ phòng bếp của căn Villa 52 mở hé nên T mở cửa chèo vào trong nhà, T lấy một chiếc điện thoại Iphone 7 Plus, màu vàng, dung lượng 256GB tại mặt hộp bìa các tông dựng sát Tờng phía trước cửa phòng ăn; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A33 5G, dung lượng 128GB để ở mặt trên của ghế sôpha tại gian phòng thờ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Plus, màu vàng, dung lượng 256GB để ở mặt đệm kê ở giữa gian nhà tại phòng ngủ tiếp giáp bên trái phòng khách. Sau khi lấy trộm được 03 chiếc điện thoại, T chèo qua đường cửa sổ ra ngoài thì bị anh Nguyễn Tiến Hưng, là bảo vệ căn Villa 52 phát hiện, T bỏ chạy thì anh Hưng cùng anh Nguyễn Mạnh Hùng là bảo vệ Công ty TNHH Âu Lạc phối hợp cùng với Công an phường T bắt quả tang, thu giữ 03 chiếc điện thoại trên. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu tím, số Imei 353072104900602; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, màu xanh, số Imei 1: 860750041288050, số Imei 2: 860750041288043; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WinnerX, màu sơn đỏ - xanh, số khung RLHKC3714LY118588, số máy KC34E1199720, gắn biển kiểm soát 34S1- 324.58; 01 chìa khóa xe ô tô, vỏ màu đen bạc, một mặt có dán nhãn KIA.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 262/KLĐGTS ngày 25/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hạ Long kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng, dung lượng 256GB mua mới vào ngày 21/9/2022 tại thời điểm bị xâm hại có trị giá 25.607.000đ (Hai mươi lăm triệu sáu trăm linh bảy nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A33 5G, dung lượng 128GB, màu trắng mua mới vào tháng 6/2022 tại thời điểm bị xâm hại có trị giá 6.875.000đ (Sáu triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus mầu vàng dung lượng 256GB mua mới vào tháng 11/2016 tại thời điểm bị xâm hại có trị giá 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản là 35.182.000đ (Ba mươi lăm triệu một trăm tám mươi hai nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá số 286 ngày 23/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hạ Long, kết luận giá trị tại thời điểm bị xâm hại của: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, dung lượng 256 GB, đã qua sử dụng là 15.733.000đ (Mười lăm triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng); 01 chiếc chìa khóa thông minh của xe ô tô nhãn hiệu Kia Sorento sản xuất năm 2021, đã qua sử dụng là 3.525.000đ (Ba triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Hạ Long, Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên. Ngày 24/11/2022 sau khi bị bắt quả tang hành vi trộm cắp 03 chiếc điện thoại, Nguyễn Văn Tự tự nguyện khai ra 02 vụ trộm cắp trước đó và giao nộp số tiền 501.000đ (Năm trăm linh một nghìn đồng).
Về xử lý vật chứng:
Ngày 07/12/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long đã trả 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Plus màu vàng, dung lượng 256G; 01 điện thoại Samsung Galaxy A33 5G, dung lượng 128 GB màu trắng; 01 điện thoại Iphone Plus, màu vàng, dung lượng 256GB; 01 chìa khóa ô tô, vỏ màu đen bạc, một mặt có dán nhãn chữ Kia cho chị Lê Kim Nhật L là chủ sở hữu.
Ngày 12/01/2023 trả cho ông Lê Minh Q 02 con dao làm bằng kim loại và số tiền 501.000đ.
Ngày 14/01/2023 đã trả chiếc xe mô tô Honda WinnerX, biển kiểm soát 34E1- 324.58 cho bà Nguyễn Thị B là chủ sở hữu.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu tím; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, màu xanh thu giữ của bị cáo T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long nhập kho vật chứng chờ xử lý.
Về phần bồi thường thiệt hại: chị Lê Kim Nhật L yêu cầu bồi thường số tiền 200.000.000đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, dung lượng 256GB, chị Lan đề nghị được bồi thường thiệt hại tài sản bằng với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hạ Long. Ông Lê Minh Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại.
Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số: 44/CT- VKS- HL ngày 27/02/2023, Viện kiểm sát thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị B xác nhận ông, bà là bố mẹ đẻ của bị cáo T, bị cáo T không có thu nhập và tài sản riêng gì để có thể bồi thường thiệt hại được cho bị hại chị Lê Kim Nhật L.
Đại diện Viện kiểm sát thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s,r khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 05 (Năm) năm tù đến 06 (Sáu) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về phần dân sự: do khi trộm cắp tài sản lần thứ nhất vào ngày 14/9/2022 của chị Lê Kim Nhật L thì bị cáo T chưa đủ 18 tuổi và không có tài sản riêng, do vậy bố mẹ bị cáo là ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị B phải có trách nhiệm bồi thường thay cho bị cáo số tiền này, đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị B phải liên đới bồi thường cho chị Lê Kim Nhật L số tiền 200.000.000đ và trị giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, dung lượng 256GB là 15.733.000đ. Đối với các tài sản khác đã được trả cho bị hại nên không đề cập giải quyết. Ông Lê Minh Q đã nhận lại tài sản bị trộm cắp nên không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: đối với 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu Iphone Xr), màu tím, tại thời điểm giao nhận vật chứng xác nhận máy không lên nguồn vì vậy không xác định được dung lượng, số imei, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Realme C3, màu xanh, tại thời điểm giao nhận vật chứng xác nhận máy không lên nguồn vì vậy không xác định được dung lượng, số imei, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy thu giữ của bị cáo T, không liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo T, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo không có ý kiến trình bày gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố cơ bản đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình tiến hành tố tụng không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Chứng cứ, tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp và đảm bảo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, các hành vi tố tụng được đảm bảo hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: vào các ngày 14/9/2022 và 23, 24/11/2022, Nguyễn Văn T đã 03 lần lợi dụng sơ hở trộm cắp tài sản, cụ thể: lần thứ nhất: ngày 14/9/2022, tại căn Villa 52 khu biệt thự vườn đồi T thuộc phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáoT trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, dung lượng 256 GB, trị giá 15.733.000đ; 01 chiếc chìa khóa thông minh của xe ô tô nhãn hiệu Kia Sorento, đã qua sử dụng trị giá: 3.525.000đ và số tiền 200.000.000đ của chị Lê Kim Nhật L; lần thứ 2 ngày 23/11/2022, tại Chùa Minh Châu thuộc tổ 21, khu 5, phường T, thành phố H, tỉnh quảng Ninh, bị cáo T trộm cắp số tiền 501.000đ thuộc quyền quản lý của ông Lê Minh Q; lần thứ 3: ngày 24/11/2022 tại căn Villa 52 khu biệt thự vườn đồi T thuộc phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo T trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu vàng, dung lượng 256GB trị giá 25.607.000đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A33 5G, màu trắng, dung lượng 128GB trị giá 6.875.000đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, dung lượng 256 GB trị giá 2.700.000đ của chị Lê Kim Nhật L. Tổng giá trị tài sản bị cáo T trộm cắp là 254.941.000đ (Hai trăm năm mươi bốn triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, nhận thức được hậu quả do hành vi trộm cắp gây ra, nhưng vì hám lời, lười lao động, muốn có tiền ăn tiêu bằng việc trộm cắp tài sản của người khác nên bị cáo đã bất chấp, lợi dụng sơ hở 3 lần trộm cắp tài sản của chị Lê Kim Nhật L và tài sản do ông Lê Minh Q trực tiếp quản lý. Tổng cộng trị giá tài sản bị cáo đã trộm cắp là 254.941.000đ (Hai trăm năm mươi bốn triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn đồng). Do vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Về nhân thân: bị cáo có 01 tiền sự, cụ thể ngày 13/7/2022 bị Công an xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương xử phạt 1.250.000đ về hành vi trộm cắp tài sản.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự thú đối với hành vi trộm cắp số tiền 200.000.000đ; 01 điện thoại di động; 01 chìa khóa xe ô tô của chị Lê Kim Nhật L và hành vi trộm cắp số tiền 501.000đ do ông Lê Minh Q trực tiếp quản lý nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s,r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt theo quy định.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: căn cứ vào nhân thân, tính chất và mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần có mức hình phạt Tơng xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đối với lần phạm tội thứ nhất bị cáo T phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi (17 tuổi 10 tháng) nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo bằng ba phần T mức phạt tù mà Điều luật quy định theo quy định tại khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy trước khi phạm tội, bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, khó có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về phần dân sự: do khi trộm cắp số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) và 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Pro trị giá 15.733.000đ (Mười lăm triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng) của chị Lê Kim Nhật L ở lần thứ nhất vào ngày 14/9/2022 thì bị cáo T chưa đủ 18 tuổi (mới 17 tuổi 10 tháng) và không có thu nhập, tài sản riêng, do vậy bố mẹ bị cáo là ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị B phải có trách nhiệm bồi thường thay cho bị cáo đối với phần tài sản bị trộm cắp này của chị Lê Kim Nhật L. Đối với các tài sản khác đã được trả cho bị hại nên không đề cập giải quyết. Bị hại là ông Lê Minh Q đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp, quá trình điều tra ông Quyến không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về xử lý vật chứng: đối với 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu Iphone Xr), màu tím, tại thời điểm giao nhận vật chứng xác nhận máy không lên nguồn vì vậy không xác định được dung lượng, số imei, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Realme C3, màu xanh, tại thời điểm giao nhận vật chứng xác nhận máy không lên nguồn vì vậy không xác định được dung lượng, số imei, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy, thu giữ của bị cáo T không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo T, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị B là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị B.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự,
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm r,s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T: 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 25/11/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng: khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 2 Điều 586; khoản 1 Điều 589; Điều 590; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị B phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại chị Lê Kim Nhật L số tiền 215.733.000đ (Hai trăm mười lăm triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về xử lý vật chứng: căn cứ vào khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu Iphone Xr), màu tím, tại thời điểm giao nhận vật chứng xác nhận máy không lên nguồn vì vậy không xác định được dung lượng, số imei, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Realme C3, màu xanh, tại thời điểm giao nhận vật chứng xác nhận máy không lên nguồn vì vậy không xác định được dung lượng, số imei, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 178/BB- THA ngày 19/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).
Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị B.
Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị B có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại chị Lê Kim Nhật L, ông Lê Minh Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Tăng Bá G, anh Nguyễn Thành L, anh Lê Công Q, chị Phạm Thị Thu T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; - Người có qlnvlq; - Cơ quan điều tra CA tp Hạ Long; - Cơ quan THAHS tp Hạ Long; - Chi cục THADS tp Hạ Long; - VKSND tp Hạ Long; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Lưu HS, VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |