vanban.org

Bản án 164/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Hồng T về việc ly hôn với anh Lê Việt K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thạch Hồng T - Lê Việt K"
  • Tòa quyết gì? và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22-8-2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Phi Hùng

Ông Trịnh Chí Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án của Toà án nhân

dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2023/TLST – HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Hồng T; Sinh năm: 2000 (vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Lê Việt K; Sinh năm: 1996 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Thạch Hông T trình bày:

Về hôn nhân: Chị Thạch Hồng T và anh Lê Việt K tự nguyện chung sống

với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào ngày 30/7/2020. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh K.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Lê Nhựt Duy – sinh ngày

03/02/2017 và Lê Nhựt Phong – sinh ngày 20/12/2020 đang ở với anh K. Khi ly hôn chị T tự nguyện giao cháu Duy và cháu Phong cho anh K được tiếp tục nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do đi làm ăn, điều kiện đi lại khó khăn nên chị T yêu cầu xét xử vắng

mặt chị cho đến khi kết thúc vụ án.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án cho anh Lê Việt

K nhưng anh K không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Thạch Hồng T

khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Lê Việt K. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Anh K có nơi cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị T và anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử sơ thẩm đến lần

thứ 2 nhưng chị T có đơn xin vắng mặt, anh K vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T và anh K.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị T và anh K tự nguyện chung sống với nhau và có

đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào ngày 30/7/2020. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hai bên cha mẹ có hàn gắn nhiều lần cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả nên vợ chồng đã ly thân khoảng 02 tháng nay. Xét thấy, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án có mở phiên hòa giải để anh chị có cơ hội gặp nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh K vẫn vắng mặt là không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Điều đó, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh K.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Lê Nhựt Duy – sinh

ngày 03/02/2017 và Lê Nhựt Phong – sinh ngày 20/12/2020 đang ở với anh K. Xét thấy cháu Duy và cháu Phong đang sinh sống ổn định với anh K và chị T cũng tự nguyện giao cháu Duy và cháu Phong cho anh K được tiếp tục nuôi dưỡng nên cần giao cháu Duy và cháu Phong cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, do anh K không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Chị T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục

con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Chị T xác định vợ chồng không có nợ chung nên

không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị T phải chịu theo quy định

tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do chị T đã dự nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp.

Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị

theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân

và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Hồng T về việc ly hôn với

anh Lê Việt K.

Về hôn nhân: Chị Thạch Hồng T được ly hôn với anh Lê Việt K.

Về con chung: Giao các cháu Lê Nhựt Duy – sinh ngày 03/02/2017 và Lê

Nhựt Phong – sinh ngày 20/12/2020 cho anh K được tiếp tục nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục

con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.

2. Về án phí: Chị Thạch Hồng T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ

thẩm 300.000 đồng. Ngày 13/6/2023 chị T có dự nộp số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003696 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ.

3. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày,

kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ