vanban.org

Bản án 164/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 09/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Bé H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Bé H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ngo be hiep - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Bé H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2022/HS-ST
Ngày 09- 11-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Sĩ Hùng

Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Cúc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Lê Quốc Nin- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2022. Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Ngô Bé H, sinh năm 1989; Hộ khẩu thường trú: Khóm , phường , thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở hiện nay: Như trên. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Thành T và bà Đinh Thị Ph; Vợ, Con: Chưa có.

- Tiền án 01 lần: Vào ngày 07/11/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau tuyên xử 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong án phí vào ngày 21/3/2016, chấp hành xong hình phạt vào ngày 20/3/2021.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 27/5/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau tuyên xử 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong án phí vào ngày 11/9/2009, chấp hành xong hình phạt vào ngày 30/8/2010.

Ngày 30/8/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau tuyên xử 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phí vào ngày 04/4/2012, chấp hành xong hình phạt vào ngày 01/4/2014.

- Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/6/2022 đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố Cà Mau.

* Bị hại: 1/ Anh Nguyễn Quốc T.

Địa chỉ: Số 215B, đường Nguyễn Đình Chiểu, khóm 8, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

2/ Chị Phạm Thị H, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số 308/2, khóm 4, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Bị cáo có mặt; bị hại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất:

Vào khoảng 13 giờ ngày 04/3/2022, Ngô Bé H đến khu vực bờ kè thuộc khóm 2, phường 8, thành phố Cà Mau chơi thì gặp D (chưa xác định được họ tên thật và địa chỉ cụ thể). Cả hai cùng thống nhất với nhau đi tìm tài sản để lấy trộm và bán kiếm tiền tiêu xài. Sau đó, H điều khiển xe mô tô hiệu Wave, màu xanh, biển kiểm soát 69B1-253.97 (Hiệp mượn trước đó của bà Đinh Thị Ph) chở D ngồi phía sau đi từ khu vực bờ kè thuộc khóm 2, phường 8, thành phố Cà Mau qua các tuyến đường thuộc phường 8, thành phố Cà Mau nhằm tìm tài sản để lấy trộm. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai đến phía trước tiệm cho thuê xe Hữu Trần ở số 215B, đường Nguyễn Đình Chiểu, khóm 8, phường 8, thành phố Cà Mau thì phát hiện tiệm cho thuê xe không có người trông coi nên D yêu cầu H dừng xe lại cho D vào trong tìm tài sản lấy trộm, H đồng ý và đậu xe phía bên ngoài chờ, còn D thì đi vào bên trong để thực hiện ý định. Một lúc sau, D trộm được một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng của anh Nguyễn Quốc T đi ra, lên xe của H chờ sẵn và yêu cầu H điều khiển xe chạy nhanh để tẩu thoát. H điều khiển xe chở D quay về lại khu vực bờ kè thuộc khóm 2, phường 8, thành phố Cà Mau. Lúc này, D đưa cho H giữ chiếc điện thoại vừa trộm được và nói để hôm sau D cùng với H mang đi bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, H đồng ý. Sau đó, D đi về hướng phường 7, thành phố Cà Mau, còn H thì đi về nhà.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi biết rõ sự việc, anh ruột của H là Ngô Bé H đã yêu cầu H trả lại tài sản cho chủ sở hữu, H đồng ý và giao chiếc điện thoại nêu trên cho anh H để trả cho anh T, đồng thời anh T cũng đồng ý nhận lại chiếc điện thoại do H lấy trộm. Đến ngày 11/3/2022, Công an phường 8, thành phố Cà Mau tiến hành mời H về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan Công an, H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vụ thứ hai:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 16/6/2022, Ngô Bé H và Ngô Thành T, sinh năm 1989 ở khóm 2, phường 8, thành phố Cà Mau gặp nhau ở khu vực bờ kè thuộc khóm 2, phường 8, thành phố Cà Mau. Tại đây, H và T cùng bàn với nhau tìm tài sản để lấy trộm và bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, H điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 68S9-1967 của Hiệp chở Tấn đến chợ phường 7, thành phố Cà Mau để thực hiện ý định. Khi đến chợ phường 7, thành phố Cà Mau thì phát hiện Ngô Đức H, sinh năm 2013 đang ngồi trên xe và để chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22, màu đen ở phía trước yên xe của H đang ngồi (H mượn điện thoại của mẹ ruột là Phạm Thị H) nên H điều khiển xe đến gần chỗ xe của H. T lợi dụng H không để ý và quay mặt đi hướng khác nên đã dùng tay lấy trộm chiếc điện thoại nói trên. Sau khi lấy được chiếc điện thoại, H điều khiển xe chở T chạy về nhà của T rồi T đưa cho H mang chiếc điện thoại vừa trộm được đi đến cửa hàng điện thoại Vũ V của anh Trịnh Vũ T ở khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau bán với giá 2.500.000 đồng, H chia cho T 1.250.000 đồng, số tiền còn lại H giữ và đã tiêu xài cá nhân hết.

Vào ngày 18/6/2022, khi biết rõ chiếc điện thoại nêu trên là do H phạm tội mà có nên anh T đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau. Đến ngày 16/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả lại tài sản trên cho bị hại là chị Phạm Thị H.

- Tang vật của vụ án tạm giữ:

+ Một chiếc xe mô tô, màu đỏ, biển kiểm soát 68S9-1967

+ Một giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Ngọc Th, biển kiểm soát 68S9-1967

+ Một chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 69B1-253.97

+ Một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22, màu đen, đã qua sử dụng.

- Theo bản Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận:

Vào thời điểm tháng 3 năm 2022, một điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng, dung lượng 64Gb, đã qua sử dụng, có giá trị là 9.500.000 đồng.

- Tại Bản kết luận định giá số 48/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 7 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận:

Tại thời điểm ngày 16/6/2022, một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22, đã qua sử dụng có giá trị là 5.500.000 đồng.

- Tổng giá trị tài sản bị H cùng đồng bọn lấy trộm là 15.000.000 đồng.

* Tang vật của vụ án được xử lý:

- Một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22, màu đen, đã qua sử dụng. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả lại cho bị hại.

- Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 69B1-253.97 do bà Đinh Thị Ph (mẹ ruột của H) đứng tên chủ sở hữu. Xét thấy, việc H lấy xe trên để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì bà Ph không biết nên ngày đến 15/6/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Ph là phù hợp.

- Riêng đối với một chiếc xe mô tô màu đỏ và một giấy đăng ký xe mô tô, biển kiểm soát 68S9-1967 của H mua lại của người khác với giá 2.000.000 đồng. Qua kết quả tra cứu thì xe trên do Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1984 ở ấp Đường Xuồng, xã Long Thạnh, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đứng tên chủ sử hữu nhưng khi tiến hành xác minh thì chính quyền địa phương xác định ông T và gia đình không còn ở địa phương nên không mời làm việc được. Do đó, tài sản nêu trên đang được bảo quản chở xử lý theo quy định.

Về dân sự: Bị hại anh Nguyễn Quốc T và chị Phạm Thị H đã nhận lại tài sản bị lấy trộm và hiện nay các bị hại đều không yêu cầu gì về dân sự.

Tại cáo trạng số 155/CT-VKS ngày 11/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Ngô Bé H về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngô Bé H theo cáo trạng số: 155/CT-VKS ngày 11/10/2022.

- Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Bé H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 173 ; Điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Vật chứng: Tiếp tục quản lý xe biển số kiểm soát 68S9 - 1967 và một giấy đăng ký xe mô tô, biển kiểm soát 68S9-1967. Án phí bị cáo phải chịu theo quy định. , ,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Qua xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đã lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Quốc T và chị Phạm Thị H, tại khu vực khóm 8, phường 8, thành phố Cà Mau và tại khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau với tổng giá trị tài sản là 15.000.000 đồng. Bị cáo thực hiện với hành vi lỗi cố ý trực tiếp, khi phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích của bản án trước mà lại thực hiện hành vi phạm tội cố ý nên bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, đối chiếu các tài liệu, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Bé H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Nên cáo trạng truy tố bị cáo Ngô Bé H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g Khoản 2 Điều 173 của bộ Luật hình sự là đúng pháp luật không oan cho bị cáo.

Xét thấy, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Chỉ vì lười lao động, muốn hưởng thụ trên công sức của người khác, nên bị cáo lao vào con đường phạm tội.

Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã được Tòa án xét xử nhiều lần, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Cướp giật tài sản, lẽ ra bị cáo phải biết sửa chữa thay đổi bản thân trở thành người tốt có ích cho xã hội nhưng bị cáo vẫn không làm được cho nên, lần xét xử này cần xử thật nghiêm để răn đe giáo dục bị cáo trở thành người tốt là phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 02 lần trộm nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường xong cho các bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đối chiếu với quy định của pháp luật tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho các bị hại. Hiện các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm phần bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Đối với Ngô Thành T và đối tượng tên D thực hiện hành vi trộm cùng với bị cáo quá trình làm việc hiện nay đã đi khỏi địa phương nên không mời làm việc được. Vì vậy, giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục điều tra, xác minh, có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau là phù hợp.

Đối với Trịnh Vũ T không biết điện thoại do H bán cho T từ trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau không truy cứu trách nhiệm đối với T là phù hợp. Đối với số tiền 2.500.000 đồng mà H đã bán chiếc điện thoại trộm được cho anh T nhưng hiện nay anh T không yêu cầu H trả lại nên không xem xét.

Đối với với một chiếc xe mô tô màu đỏ và một giấy đăng ký xe mô tô, biển kiểm soát 68S9 -1967 của H mua lại của người khác với giá 2.000.000 đồng. Qua kết quả tra cứu thì xe trên do Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1984 ở ấp Đường Xuồng, xã Long Thạnh, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đứng tên chủ sử hữu nhưng khi tiến hành xác minh thì chính quyền địa phương xác định ông Th và gia đình không còn ở địa phương nên không mời làm việc được. Do đó, tài sản nêu trên tiếp tục được bảo quản theo quy định.

Áp dụng nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm b Khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Bé H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Bé H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2022.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự.

Tiếp tục bảo quản một giấy đăng ký xe mô tô màu đỏ và 01 xe biển kiểm soát 68S9-1967, tên Nguyễn Ngọc Th.

(Tang vật do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau quản lý ).

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (chưa nộp).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày

nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ